Showing posts with label Phùng Ngọc Cửu. Show all posts
Showing posts with label Phùng Ngọc Cửu. Show all posts

Saturday, February 9, 2019

Nằm Mơ Thấy Lợn Kêu


Đầu năm Kỷ Hợi, 2019, trong một siêu thị ở Perth, Australia

Dân Việt ta có “truyền thống” đầu năm âm lịch nào thì thường kể chuyện con giáp của năm đó.


***

Cách đây đúng 60 năm _ 1959, năm Kỷ Hợi _ tôi tình cờ đọc được câu chuyện này trong tập san Quê Hương Nam Định do thầy Đỗ Tiến Phán tặng bố tôi, vì cả hai người đều là đồng hương Nam Định. Thầy Phán là người khai tâm cho tôi, vỡ lòng cho tôi. Thầy sinh năm 1896, tuổi Bính Thân.
 
Một lần đến viếng mộ thầy, 1996, Montpellier, France
 
Nay tôi vẫn nhớ rất rõ câu chuyện đọc được này. Đầu năm Hợi đọc chuyện Heo _ người Nam gọi con Hợi là con Heo, còn người Bắc gọi con Hợi là con Lợn _ thật thú vị. Có điều, một thứ bánh đặc trưng của riêng người miền Nam lại gọi là “bánh da lợn” chứ không ai gọi là “bánh da heo” bao giờ. Chịu!


***

Hồi đó … trong một làng quê (ngoài Bắc), có một ông thầy bói … khá giỏi. Trong làng, ai cần xem quẻ về tình duyên, gia đạo đều tìm đến thầy. Sau đó một thời gian, gia chủ thường quay lại biếu thầy, khi thì vài cân gạo, khi thì con gà, con vịt, nải chuối …

Trong làng có một chàng thanh niên vô công rỗi nghề lại có tính rắn mắt, nghịch ngợm. Anh chàng cho rằng ông thầy bói này thực ra chỉ là thầy bói mò, chẳng qua gặp may, “chó ngáp phải ruồi”, đoán đúng vài quẻ nên dân làng quý mến, thế thôi, chứ chẳng tài cán gì cả. Vì thế chàng trai này tìm cách lập mưu lật tẩy ông thầy bói, làm bẽ mặt ông ta trước dân làng cho bõ ghét, thế thôi.

Một hôm, anh ta ghé qua nhà ông thầy bói, phịa đại một giấc mơ nào đó:

- Thưa thầy, tối qua tôi nằm mơ thấy lợn kêu, chẳng hiểu đây là điềm gì. Nhờ thầy giải cho một quẻ.

Ông thầy bói trầm ngâm một lát rồi nói.

- Ngày mai anh cứ ở nhà, đừng đi đâu cả. Thế nào cũng có người biếu anh món ăn gì đó.

Anh ta ra về, bụng bảo dạ: “Đúng là lão bói mò, mình phịa chuyện nằm mơ, thế mà cũng vờ vịt trầm ngâm bói quẻ … Ngày mai mà không ai biếu cho món gì ăn thì ta đến đây bêu riếu cho một trận chừa thói đoán mò!”

Tuy thế, ngày hôm sau anh ta vẫn ở trong nhà. Tình thực thì anh ta thất nghiệp, có công việc gì đâu mà phải ra ngoài đâu.

Chiều đến, nhà hàng xóm cho thằng nhỏ chạy qua nhà anh chàng:

- Bố cháu mời chú qua nhà ăn giỗ ông cháu ạ!

Chàng được một bữa bĩnh bầu.

Sau bữa giỗ về nhà, anh chàng trầm ngâm: “Lão bói mù này chẳng qua đoán mò, làng quê thì thiếu gì giỗ chạp, chẳng giỗ bố mẹ thì cũng giỗ ông bà cụ kỵ quanh năm suốt tháng chứ có phải là biến cố hiếm hoi gì đâu.”

Tuần sau anh chàng lại đến nhà ông thầy bói:

- Thầy bói thật đúng, hôm ấy tôi được mời ăn giỗ. Nhưng thưa thầy, đêm qua tôi lại nằm mơ thấy lợn kêu. Chẳng hiểu lại báo điềm gì chăng?

Thầy bói lại trầm ngâm:

- Ngày mai anh cứ ở nhà, đừng đi đâu cả. Thế nào cũng có người biếu anh quần áo, vải vóc gì đó.

Anh ta lại ra về, bụng bảo dạ: “Hóa ra lão đoán thế mà trúng phóc. Cứ để xem, nếu may mắn lão bói trúng lần nữa thì mình cũng được quà chứ mất mát gì đâu mà lo …”

Chàng lại bó gối nằm nhà, đại lãn chờ sung. Chiều đến có người bạn nối khố đi làm phương xa về thăm quê nhà, ghé qua tặng anh chàng một chiếc khăn nhiễu tuyệt đẹp.

“Ơ hay! Anh chàng nghĩ thầm, lão bói mò này bói lại đúng lần nữa, mà bói toàn điềm lành. Để xem, quá tam ba bận, chó không thể ngáp trúng ruồi mãi. Để xem …”

Mấy tuần sau anh chàng lại mò đến nhà ông thầy bói:

- Thầy quả thật là tài. Chẳng hiểu sao đêm qua tôi vẫn nằm mơ thấy lợn kêu …

Thầy bói lại trầm ngâm. Một lát sau chợt nghiêm nét mặt:

- Lần này không ổn rồi. Ngày mai chết sống gì anh phải ở trong nhà, chớ có đi đâu. Thiên hạ họ đánh cho thiệt thân lại còn mang tiếng xấu …

Anh ta ra về, chột dạ: “Lão này bói hai lần đều trúng phóc. Lần này lão bói ra quẻ xấu, biết đâu lại đúng thì … bỏ mẹ!”

Hôm sau anh ta cố thủ trong nhà, cửa đóng then cài mong cho tai qua nạn khỏi.

Ngày êm ả trôi qua. Xế chiều, anh ta chợt thấy dấm dẳn đau bụng, định chạy ra … đồng nhưng nhớ lời ông thầy bói dặn, không được xuất … gia nên vừa ra đến cổng lại quay vào nhà ngay. Cầm cự đến xâm xẩm tối thì không còn cố thủ được nữa. Ông bà đã phán rồi: “Việc quan còn day dứt, chứ việc c… phải đi ngay”! Thế là anh chàng ba chân bốn cẳng phóng thẳng ra đồng. Giữa đường thì … vỡ trận. Anh chàng đánh liều tạt thẳng vào một căn nhà bên đường. Đến cổng thì không chịu thêm được nữa. Một liều ba bảy cũng liều, thế là chàng tuột đại quần, … xóm xổ ra ngay giữa cổng.

Bất ngờ trong nhà có người đi ra, thấy anh chàng này thiếu … văn hóa nên chụp lấy cây gậy làm chàng ta kéo quần chạy mất dép. Rất may lúc ấy trời chạng vạng nên anh chàng không bị nhận diện.

Cả tuần sau mới hoàn hồn, anh chàng mới lò dò đến nhà ông thầy bói kể lại sự tình.

- Thưa thầy, tôi tự hỏi làm sao thầy giải cả ba giấc mơ giống nhau đều đúng phóc như vậy.

Lần này thì thầy bói mỉm cười.

- Có gì khó đoán đâu. Này nhé, lần đầu anh nằm mơ thấy lợn kêu, lợn kêu nghĩa là nó đói, mà nó đói thì phải cho nó ăn chứ. Ấy là anh được mời đi ăn giỗ. Lợn đã no rồi mà vẫn cứ kêu thì hẳn là nó lạnh, vì thế phải đắp chăn cho nó ấm thì nó mới ngủ được. Đó là lần thứ hai anh được tặng chiếc khăn nhiễu. Đã no, đã ấm mà con lợn vẫn cứ kêu thì nhất định đây là lợn hư, phải đánh nó thôi!

Anh chàng đăm chiêu rồi gục gặc đầu thông hiểu, thán phục. Anh cảm ơn ông thầy bói rồi kiếu từ.

Trên đường về, bỗng dưng mặt anh chàng đực mẫm ra: “Cơ mà, cả ba giấc mơ thấy lợn kêu mình đều phịa ra cả, chứ có phải mộng mị thực sự gì đâu, tại sao lão ta lại giải mộng hoàn hảo đến như vậy?”

Perth, Australia, ngày mồng 6 tết năm Kỷ Hợi.

Phùng Ngọc Cửu

Thursday, May 4, 2017

Văn Hóa Vệ Sinh

“Dây cà ra dây muống” lâu nay không gặp vùng đất và thổ nhưỡng thích hợp nên tịt lại, không phát triển thêm chiều dài. Nay thầy Chi, không chỉ là cây đại thụ dạy Anh văn của đất Ban Mê Thuột mà còn ra tận Ninh Thuận trổ thiên khiếu là nhà nông học kỳ tài cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhà nông học này có biệt tài trồng cà, ngoài quả sai đâu chưa thấy nhưng cành thì cứ dài ngoẵng ra, bò thi cùng dây muống trông thật … mát mắt.  Nhân đọc bài viết của thầy Chi: Ninh Thuận – Lan Man Bên Lề, Giây Cà Ra Giây Muống, tôi chợt thấy mình rất muốn mon men “tát nước theo mưa” với thầy. Chỉ mong hai loại “giây” này, nếu không mập thêm chút bề ngang nào thì cứ để nó dài xả láng.

Cái chủ đề “nhà vệ sinh” mới nghe qua không có vẻ “văn chương bác học” tí nào, không xứng đáng với “đỉnh cao trí tuệ” của cái xã hội Việt Nam ngày nay toàn là “thánh” cả. Thánh nhiều, nhưng người trần mắt thịt cũng không ít. Mà người trần mắt thịt thì ai cũng có nhu cầu… sơ đẳng. Thời còn sinh tiền, bố tôi kể chuyện bọn Tây thời Pháp thuộc lịch sự và sạch sẽ lắm, trong túi lúc nào cũng có ít nhất hai cái khăn mùi-soa. Thật ra, chẳng phải họ có nhu cầu nhiều về lau tay lau mép nhưng để phòng hờ trường hợp đang đi đường mà có “nhu cầu lớn” (grand besoin _ đại tiện) hay nhu “cầu thúc bách” (besoin pressant _ tiểu tiện) mà không tìm được “bãi đáp” thì hai chiếc khăn cứu hộ kia sẽ được dùng để… túm chặt ống quần!

Có lẽ đa phần người Việt chúng ta, nhất là những người họ… nội quen nhịn, vì vậy mỗi lần ra khỏi nhà thường ít khi nghĩ tới cái món nhu cầu kia. Còn họ ngoại, mỗi lần về thăm quê hương chắc ít nhất cũng đôi lần… khắc khoải lắm về chuyện này. Riêng du khách ngoại quốc, nhất là Tây phương, họ rất phàn nàn về hệ thống vệ sinh, tiện ích khi đến Việt Nam. Nhiều người còn… cực đoan đến độ không ngần ngại tuyên bố một đi không trở lại đất nước này vì nhiều lý do “tế nhị”, trong đó lý do không có nhà vệ sinh công cộng, hay có mà không đạt tiêu chuẩn tối thiểu có thể chấp nhận được.

Ai bảo nhà vệ sinh công cộng là không “bác học”, không “xứng tầm” thì người đó nhất định là… thánh! Khi ngành du lịch Việt Nam loay hoay tổ chức thi sáng tác chọn logo và khẩu hiệu thật kêu và thật quyến rũ thì rất nhiều ý kiến đóng góp kêu gào: Nhà vệ sinh! Nhà vệ sinh!

Có lẽ tiếng kêu… thấu trời xanh kia mở đầu cho thời đại bùng nổ… lác đác nhà vệ sinh.
 
Một cặp đôi (hoàn hảo) nhà vệ sinh công cộng xuất hiện
tại công viên Thống Nhất, Sài Gòn ngày 1/5/2016.
Thỉnh thoảng đi ngang qua đây, tôi không còn thấy chúng hiện hữu nữa.

Cái thời xe đò từ Ban Mê Thuột đi Sài Gòn qua ngả Nha Trang ba ngày hai đêm, sau rút xuống còn hai ngày một đêm đã chấm dứt cùng với cảnh vật vã cơm xe tù và vệ sinh bụi. Thế nhưng bây giờ mỗi lần về Ban Mê Thuột, xe ngừng ở trạm nghỉ chân giữa đường thì tôi lại cố quên đi rằng mình đang có… nhu cầu, chỉ đơn giản rằng cứ nghĩ đến cái mùi kinh khủng kia tự nhiên tôi lại tưởng mình là… thánh!

Nói cho công bình, giả sử cứ mỗi đầu đường có một “túp lều lý tưởng” kia thì chưa chắc ai đó, nhất là cánh mày râu lại chịu khó bước vào, cho dù rất thích từ miễn phí. Ai bảo ngành du lịch Việt Nam không quan tâm đến việc trang điểm diện mạo và hình ảnh của đất nước này? Ai bảo nhà nước này không cứng rắn trừng phạt cái bọn “công xúc tu sỉ” chuyên “đứng úp mặt vô tường”? Hàng loạt nghị định và thông tư được ban hành, quy định xử phạt rất nặng _ tiền phạt lên đến cả triệu đồng đấy _ bọn phạm luật quả tang với đầy đủ tang chứng vật chứng. Ấy vậy mà chưa từng thấy báo chí đưa tin một trường hợp điển hình phạm pháp nào mặc dù mỗi buổi sáng tôi ra con đường ở quận 8, Sài Gòn này tập thể dục, chỉ riêng một đoạn đường ngắn chưa đến một trăm mét, tôi thấy không dưới năm ca “quả tang phạm pháp”. Đặc biệt các phạm nhân đều là những kẻ… tái phạm hàng ngày.
 
Người này là một cán bộ già _ quần áo đóng thùng, giầy da láng coóng, cặp hồ sơ “mật” dày cộm _,
một kiểu công chức tiêu biểu. Ông ta không ngày nào không đến đây hành sự.

Nhân đây lan man bên lề về luật pháp xử các vụ phạm pháp nhỏ nhặt của một vài nước quanh ta. Cách đây hơn hai chục năm _ có lẽ vào thời Tổng thống Bill Clinton _, một thanh niên Hoa Kỳ du lịch đến Singapore, chẳng biết tắt mắt hay nghịch ngợm thế nào lại xịt sơn vào ngay vào xe hơi ở đây. Chàng xộ khám chờ ngày ra tòa. Khung hình phạt cho tội này (vandalism _  hành động cố ý phá hoại hoặc làm hư hỏng các công trình nghệ thuật, tài sản công và tư, các thắng cảnh ...) là đánh hèo ở công viên. 

Vì danh dự quốc gia, Tổng thống Bill Clinton can thiệp với chính quyền Singapore xin giảm án vì lòng khoan dung với lý do rằng thanh niên này không ý thức rằng đó là hành vi phạm pháp _ ở nhiều quốc gia Châu Âu, theo tôi biết, hành vi xịt sơn lên tường là nhan nhản và dường như không bị phạt nặng. Án được ân giảm từ đánh sáu hèo xuống còn bốn hèo.

Năm 2010, một công dân Thụy Sỹ cũng mắc tội xịt sơn lên một chiếc xe lửa ở Singapore, bị kết án năm tháng tù và “nựng” ba hèo. Xin phúc thẩm, chẳng những không được tòa thượng thẩm ở đây giảm án mà chàng này còn “được khuyến mãi” thêm hai tháng nữa thành bảy tháng!!! (theo Vandalism Act _ Wikipedia)

Nguyên tắc bất thành văn của pháp luật ở các nước văn minh là “Không ai được xem là không biết/rành pháp luật” (Nul n’est censé ignorer la loi) _ bạn không thể mang kẹo shewing-gum vào Singapore để đến khi bị phạt mới cuống quít bào chữa rằng tôi không biết điều này. Hơn nữa “pháp bất vị thân”, liệu luật pháp của Đảo quốc Sư tử còn có được tôn trọng hay còn hiệu lực thi hành hay không nếu làm ngơ một tội “cỏn con” như thế?

Nên nhớ, việc thi hành hình phạt đánh hèo rất bài bản và… đẹp mắt! “Đao phủ” là một võ sư có biệt tài múa và đánh hèo trăm phát như một, ấy là lằn roi sau được quất đúng vào lằn roi trước khiến vết thương để lại sẹo vĩnh viễn suốt đời. Sau khi thụ án, phạm nhân được hai người xốc nách dìu đi vì không thể lết nổi…

Nếu luật pháp Việt Nam cũng được thượng tôn như Singapore thì quan tòa, chánh án, thẩm phán ở đây có khối công ăn việc làm, một năm xử đủ 365 ngày, không còn thời gian nghỉ phép! Lúc ấy nhà tù sẽ nhiều hơn trường học và bệnh viện.

Tôi dám chắc rằng chàng thanh niên kia chỉ vì tinh nghịch, có nghĩa là hành vi phạm pháp do bốc đồng, vô thức chứ không chủ ý. Hành vi phạm pháp thường xuất hiện do thói quen (xấu): xoáy hàng trong siêu thị, lừa đảo, tham nhũng… nhất nhất đều do thói quen. Ăn vụng đà quen nết. Thật không sai khi ngạn ngữ nói rằng “thói quen là bản năng thứ hai” (Habitude est la seconde nature).

Mỗi sáng tôi dựng xe, chuẩn bị tập thể dục thì y như rằng một lúc sau một chú cẩu hoang lân la vừa đến gần xe, vừa quan sát tôi, vừa chực pee vào bánh xe của tôi. Chỉ chờ giây phút này tôi mới giậm chân “suỵt” một tiếng thật mạnh cho chú cẩu hết hồn bỏ chạy. Vài ngày sau chú cẩu lại lân la đến gần, nhìn tôi rồi… bỏ đi. Thói quen hay bản năng?

Cái ông cán bộ kia và nhiều người khác nữa, họ đã “phơi nhiễm” thành bản năng rồi. Họ đi xe gắn máy tới đây, dựng xe, tắt máy rồi vào lề đường… úp mặt vô tường. Xong việc rồi họ khoan thai bước ra đường, lên xe, vòng ngược lại hướng họ đến đây. Điều này chứng minh họ đến đây, chính địa điểm này để thực hiện thói quen (hay bản năng?), một thứ không thể sửa chữa được nữa, trừ phi luật pháp Việt Nam nghiêm minh và… dữ dằn như luật pháp Singapore!

Sáng nay trên con đường này có một đám tang, người đưa đám rất đông, cờ xí, kèn trống ầm ỹ. Ông cán bộ xuất hiện, thấy người đông quá không hành sự được nên chạy đến đầu đường dựng xe đứng… đợi. Khi đám tang đi qua, ông ta quay xe lại, dựng xe và đứng dưới gốc cây hoa vàng, vừa hóng mát vừa ngó ngang ngó dọc xem có ai… ngưỡng mộ mình không? Tôi buồn cười quá, quyết định chụp lén bức hình này. Thôi thì cứ tin rằng ông ấy mắc một căn bệnh, một loại exhibitionnisme!
 
Hoa vàng đẹp đến lạ lùng
 
Hoa vàng cận cảnh.

Một tuần trước đó, cây hoa vàng này nở rộ bông, đẹp ngẩn ngơ, và tôi nhanh chóng ghi lại cái giây phút thanh xuân này. Đương sự đến đây hành sự hàng ngày nên “hoa vàng mấy độ” cũng mau chóng tàn phai. Một sự việc luôn có hai mặt, có lẽ chỉ nên nhìn mặt đẹp của nó.
 
Đây nữa nè, bên bức tường hoen ố …
là chùm hoa Muồng bò cạp đẹp biết mấy.
 
Bên đây đường, nơi tôi đứng tập thể dục mỗi buổi sáng, sạch sẽ vì thoáng đãng hơn. Hoa Bằng lăng thơ thẩn nở hoa.

Sài Gòn, ngày 3 tháng năm, 2017

Phùng Ngọc Cửu


Saturday, February 6, 2016

Hoa và Thi Ca

Những năm trước 1975, tôi còn là sinh viên đang học ở Sài Gòn, mê xem xi-nê hay ngồi quán cà-phê nghe nhạc. Một lần xem một phim khoa học viễn tưởng ở rạp Rex có tên là Hầu tinh (La Planète des Singes) chẳng hiểu sao có những chi tiết nho nhỏ trong phim mà tôi nhớ mãi đến hôm nay. Một phi hành đoàn thám hiểm không gian, đáp xuống một hành tinh lạ. Họ đi trên một sa mạc không có sự sống cho đến một ngày họ chợt khám phá ra một bụi hoa nhỏ nép dưới hốc đá. Họ hét lên vui mừng vì đây là dấu hiệu của sự sống. Sau đó họ đi vào một khu rừng và bị một bầy khỉ tung lưới tóm gọn. Họ bị nhốt vào một nhà tù. Tại đây họ khám phá ra nhiều tù nhân đồng chủng như họ bị các bác sỹ khỉ mổ hộp sọ rồi khâu lại. Những người này bị biến thành những robot nô lệ, chỉ biết làm việc và không biết nói. Chỉ  có một vài người trong phi hành đoàn sau đó vượt thoát khỏi ngục, chạy mãi ra đến một bờ biển. Một nam phi hành đoàn chỉ kịp thở dài nhẹ nhõm, nhưng sau đó anh ta lại thét lên căm hờn khi phát hiện ra tượng Nữ thần Tự do gãy đổ, vương miện cắm vào vách đá bên bờ biển.

Tôi chỉ nhớ chi tiết gây ấn tượng nhất là khi phi hành đoàn phát hiện ra cụm hoa dưới hốc đá. Ôi hoa! hình tượng đặc trưng, không những cho sự sống mà còn cho cái đẹp của trái đất này. Hoa cũng tượng trưng cho phụ nữ mà Onassis, tỷ phú Hy Lạp, người cưới Jackie Kennedy_phu nhân cố tổng thống John Kennedy_ đã “kín đáo” nhận ra một điều mà bất cứ người đàn ông nào cũng cảm nhận được nhưng lại không “biết” nói ra: “Nếu trái đất này không có phụ nữ thì cánh đàn ông cố làm giàu hay gây chiến tranh để làm gì?”

Chỉ tưởng tượng đơn giản rằng một ngày bước ra khu vườn mà chẳng có đóa hoa nào, dù là hoa dại hay một “đóa hoa vô thường”, thì ngày hôm đó có còn thi vị nữa không?

Mỗi cuộc tình thường gắn bó với một loài hoa nào đó. Cánh hoa đó là chất xúc tác dẫn dắt đến kỷ niệm, mầu hoa đó tô thắm đậm cuộc tình, hương hoa đó phảng phất bàng bạc dư hương người con gái nào đó…
Hôm nay ta cùng bước vào khu vườn rực rỡ hương hoa đầu xuân. Đừng chần chừ nữa vì mùa xuân chóng tàn để chỉ còn là vùng kỷ niệm sau đó! 

Ngọc lan trầm ngát thu hương

 H.2 Một giống ngoc lan lạ, thơm ngát. Quận 7, Oct. 2015

Trong một khu vườn hay một công viên, chỉ cần hiện diện một cây ngọc lan trổ hoa thì vùng không gian xung quanh sẽ ngát hương, một thứ hương thanh cao đặc trưng không thể lầm lẫn. Cánh hoa ngọc lan thưa, trắng nuốt, phủ quanh đám nhụy vàng nhạt, nổi bật trên đám lá to xanh biếc. Hoa này một thời là quà tặng người tình của tôi ngày chủ nhật sau một tuần vắng bóng!

Có lẽ không ai có thể mô tả hoa ngọc lan hay hơn Dương Thiệu Tước. Lời nhạc óng ả như tơ, giai điệu mượt mà, quý phái. Đây là bản nhạc có thể loại độc nhất vô nhị trong nền âm nhạc Việt Nam theo cảm nhận của tôi.

Ta hãy lắng nghe đoạn chuyển tông dịu buồn ở điệp khúc cùng đoạn dứt (pour finir) thanh thoát, cao vút.

Ngọc lan dòng suối tơ vương, mắt thu hồ dịu ánh vàng.
Ngọc lan nhành liễu nghiêng nghiêng, tà mây cánh phong, nắng thơm ngoài song.
Nét thắm tô bóng chiều, giấc xuân yêu kiều, nền gấm cô liêu.
Gió rung mờ suối biếc, ý thơ phiêu diêu.
Ngón tơ mềm chờ phím ngân trùng mạch tuôn lai láng.
Dáng tiên nga giấc mơ Nghê thường lỡ làng.

Ngọc lan giọng ướp men thơ mát êm làn lụa bóng là,
Ngọc lan trầm ngát thu hương bờ xanh bóng dương phút giây chìm sương.

Bông hoa đời nghìn xưa tới nay
Rung nhạc đó đây cho đời ngất ngây.
Cho tơ chùng đàn hờ phím loan
Thê lương mây nước sắt se cung đàn.
Ôi tâm hồn nghệ sỹ chìm trong hương thắm
Nhớ phút khuê ly hồn mê tuyết hoa ngọc lan

Mờ mờ trong mây khói men nồng ủ ấp duyên hững hờ.
Dần dần vương theo gió, tơ lòng dâng bao cung thương nhớ.

 


Dạ lai hương

Một lần, sau bao năm xa cách, về thăm lại khu vườn hoang phế,
chợt xúc động nhận ra cây Nguyệt quế không người chăm sóc
mà vẫn vươn cao thành “cổ thụ”.
Hương nguyệt quế lan khắp xóm. BMT tháng 7-2015

Hoa nguyệt quế thơm ngát về đêm
Có một loài hoa nở về đêm, hương thoảng dìu dịu, lan toả rất xa. Một đêm trời đầy sao, giải ngân hà trải dài như một dòng sữa (la voie lactée), trời lặng gió, dạ lai hương nở trắng xoá trong vườn: Đêm thơm như một dòng sữa, lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà.
Gió dìu dịu, trăng toả sáng, hương quyện trong không khí tĩnh lặng: hương đêm. Phạm Duy không mô tả dung nhan của hoa mà chỉ nói bước chân nhè nhẹ của hương hoa làm đêm thêm thanh tịnh và thái hòa.

Ðêm thơm như một dòng sữa
Lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước nhà.
Hiu hiu hương tự ngàn xa, bỗng quay về
Dạt dào trên hè, ngoài trời khuya

Ðường đêm sao yên vui, người đi quen lối
Tình trai nở bốn phương trời.
Ðàn em trong cơ ngơi
Nhờ đêm đưa tới những ai làm ngát hoa đời
Nhịp bàn chân, hương đêm ơi!
Nhịp bàn tay, hương đêm ơi!

Lung linh trăng lại về nữa
Cánh gió đưa hương ngả đầu mây phất phơ
Ðêm thơm không phải từ hoa
Mà bởi vì ta thiết tha tình yêu Thái Hoà

Ðời ngon như men say tình lên phơi phới
Ðẹp duyên người sống cho người.
Ðời vui như ong bay, ngọt lên cây trái
Góp chung mật sống lâu dài
Nhịp bàn tay nhân gian ơi!
Nhịp bàn tay hương yêu ơi!

Ðêm đêm trước khi ngủ kỹ
Lũ chúng em ân cần cầu hương lúc tân kỳ
Ðêm thơm thêm một lần nữa
Rồi hẹn nhau thương nhớ





Hoa phượng trong khuôn viên La Salle Tabert, Sài Gòn, tháng 5-2015

Nền âm nhạc Miền Nam Việt Nam trước 1975 có hai nhạc sỹ cùng mang chí  hướng “tang bồng hồ thỉ nam nhi trái”: Lâm Tuyền và Nguyễn Văn Đông. Lâm Tuyền mang chí tang bồng lãng tử của cánh chim âu sải cánh cho mỏi rồi mới hồi hương (Khúc nhạc Ly hương, Hình ảnh một buổi chiều, Tiếng thời gian, Tơ sầu, Trở về dĩ vãng, …), còn Nguyễn Văn Đông (Chiều mưa biên giới. Mấy dặm sơn khê, Nhớ một chiều xuân, Sắc hoa mầu nhớ, Hàng hàng lớp lớp, Phiên gác đêm xuân,  …) mang chí tang bồng của nhà binh, không ngạc nhiên lắm vì ông là sỹ quan quân đội, nhưng lòng vẫn canh cánh vì vận nước nổi trôi: Non nước ơi, bèo trôi theo sóng đưa …. Nhạc Nguyễn văn Đông có giai điệu man mác của những cuộc tình mong manh của người trai còn nợ nước qua những lần ghé thăm người tình rồi lại phải ra đi … Tuy là dân nhà binh nhưng nhạc của ông không mang mùi súng đạn tàn sát, nếu có, lại chỉ có một lần mang nét buồn vì nhớ người tình hay chỉ thoáng qua giây phút ngắn ngủi bên người tình: Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng, ngoài mưa khuya lê thê qua ngàn chốn sơn khê … hay Xác hoa tàn rơi trên báng súng, ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi.

Hoa vẫn là hình tượng không thiếu trong nhạc của Nguyễn Văn Đông. Hoa bốn mùa xuân-hạ-thu-đông đều gợi niềm cảm hứng, trải dòng nhạc cho tình yêu. Thấy hoa lại nhớ người yêu: Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người, chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ … Chiều nay có một loài hoa vỡ bên trời … (Nhớ một chiều xuân)

Nếu bên trời Âu hoa bruyère (thạch thảo) tượng trưng cho biệt ly thì ở xứ ta hoa phượng vỹ báo hiệu từ ly!_ Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi, sắc tươi màu pháo vui tiễn em chiều năm ấy … (Sắc hoa mầu nhớ). Chiều hành quân qua xóm nhỏ, thấy xác pháo hồng tươi như phượng vỹ, biết người xưa qua sông, dù thấy trong lòng dậy sóng gió mưa nhưng rồi vẫn phải bước tiếp mà không thể dừng chân được! Ôi, màu áo kaki nhân bản!

Hoa phượng rơi đón mùa thu tới
Màu lưu luyến nhớ quá thu ơi
Ngàn phượng rơi bay vương tóc tôi
Sắc tươi màu pháo vui
Tiễn em chiều năm ấy

Xưa từ khu chiến về thăm xóm
Ngàn xác pháo lấp ánh sao hôm
Chiều hành quân nay qua lối xưa
Giữa một chiều gió mưa
Xác hoa hồng mênh mông

Đời tôi quân nhân, chút tình duyên gửi núi sông
Yêu màu gợi niềm thủy chung
Xa rồi vẫn nhớ, một trời vẫn nhớ đời đời
Phượng rơi rơi trong lòng tôi

Thu vừa sang sắc hồng tô lối
Tình thu thắm thiết quá thu ơi
Nhìn màu hoa xưa tan tác rơi
Nhớ muôn vàn nhớ ơi
Hát trong màu hoa nhớ

Tôi lại đi giữa trời sương gió
Màu hoa thắm vẫn sống trong tôi
Chiều thu sau không qua lối xưa
Đến những trời gió mưa
Xác hoa hồng mênh mông,

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Chiều hành quân anh đi về cánh rừng thưa, thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa. Hình ảnh người lính quanh năm xa nhà, xa người yêu. Một chút gì gợi đến kỷ niệm cũng nhớ đến người yêu: hoa cúc và hoa rừng vàng, hay hoa mai, ai biết được!

Phạm Đình Chương được xem là nhạc sỹ phổ thơ có hồn nhất của nền âm nhạc Miền Nam Việt Nam. Bài Mầu kỷ niệm ông phổ từ thơ Nguyên sa là một trong bài độc đáo, cùng với Mộng dưới hoa – thơ Đinh Hùng, Nửa hồn thương đau – thơ Thanh Tâm Tuyền …

Nhớ ngày nào tan trường về chung lối
Mắt thuyền sương, nghiêng nón ngất ngây đời.
Lòng trao lòng cho tình vút lên khơi,
Cho ngon mầu trìu mến ướt lên môi.

Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh pha mực cho vừa mầu luyến thương.

Ngày hành quân anh đi về cánh rừng thưa
Thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa.
Kỷ niệm đâu len lén trở về tâm tư
Có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ.
Hẹn ngày mai khi tan giặc sẽ cùng nhau.
Góp hết hoa thơm chung tay xây kết mộng đầu.
Trời thần tiên đôi bướm nhịp nhàng lả lơi.
Nương cánh nhau đi xa hơn cả cuộc đời.

Ôi mầu hoa! mầu thương nhớ.





Nếu mỗi loài hoa được ươm trồng nâng niu trong vườn và được đặt tên mỹ miều không lầm lẫn thì trong những cuộc tình lãng mạn ở chốn đồng nội, người con gái thường được tặng một bó hoa nhỏ hay hoa được tết một vòng mảnh khảnh rồi đặt lên đầu như vương miện khiến nét khả ái của người con gái còn tăng lên gấp bội. Có lẽ chỉ có mấy anh em ban Bee Gees nhà họ Gibb mới lột tả hết được nét đẹp này khi thì thầm với chúng.

Hoa gì vậy nhỉ?

Wildflower

Wildflower, sacrifice everything
In a wonderland that you know
It's crazy that I'm clear out of my mind
A wonderful place to be.

Hoa dại, hãy hy sinh mọi thứ
Trong một vùng đất thần tiên mà em biết đến.
Thật điên rồ khi tôi xóa sạch khỏi tâm trí mình
Một chốn kỳ diệu (như thế) để ở.

Wildflower, sweet as the morning light
If I blink an eye, will you go?
I'm starting to care much more than I dare
A wonderful thing to see
And what do we know

Hoa dại, dịu ngọt như ánh sáng ban mai
Tỷ như tôi nháy mắt, liệu em sẽ biến mất đi chăng?
Tôi sẽ bắt đầu lưu tâm nhiều hơn tôi là tôi dám
đến một thứ kỳ diệu để nhìn ngắm
Cùng với điều chúng ta biết.

First say, 'You love me'
And then say, 'You leave me'
But we never say goodbye
God, you're an angel
But even an angel must choose

Trước hết hãy nói, “Anh yêu em”
Rồi hẵng nói, “Anh bỏ em”
Nhưng ta chớ bao giờ nói lời giã từ
Chúa ơi, em là một thiên thần!
Thế nhưng ngay cả một thiên thần cũng phải chọn lựa chứ.

Someone will hurt you
And when you stop running
There's only this love of mine

Ai đó sẽ làm em đau
Và rồi khi nào em ngừng chạy
Thì chỉ còn lại mỗi tình yêu này của tôi thôi.

Wildflower, sacrifice everything
In a wonderland that you know
If older is wise, one look in your eyes
I'm younger than I should be
And only time, waiting for you to grow

Hoa dại, hãy hy sinh mọi thứ
Trong một vùng đất thần tiên mà em biết đến.
Nếu già đi chính là khôn ngoan thì (chỉ) một cái nhìn trong mắt em
Tôi sẽ trẻ ra hơn là tuổi tôi phải mang
Và rồi chỉ khi đó tôi mới chờ đợi em mọc lên.
                                             Phùng Ngọc Cửu dịch

First say, 'You love me'
And then say, 'You leave me'
But we never say goodbye
God, you're an angel
But even an angel must choose
Someone will hurt you
And when you stop running
There's only this love of mine
Wildflower, sacrifice everything
In a wonderland that you know
If older is wise, one look in your eyes
I'm younger then I should be
And only time, waiting for you to grow




Cuối năm 1973, lần đầu tiên đến Dalat để thực tập sáu tháng ở đây, tôi ngỡ ngàng trước cảnh đẹp và đời sống văn hóa thành phố này. Dalat là thành phố duy nhất ở Miền Nam có sắc thái riêng biệt. Ngoài thông bạt ngàn vi vu như tiếng thác nước từ xa, hồ Xuân Hương với hàng đào rừng phớt hồng nở rộ vào cuối năm làm cho hồ nước với nhà Thủy tạ rực rỡ hơn dưới ánh nắng chiều. Dalat với những buổi sáng sương mù dầy đặc, có khi đứng cách nhau vài mét không nhận diện được, càng làm cho thành phố mờ ảo khi mà, đứng bên đây đồi khách sạn Palace, thành phố chìm khuất trong màn sương dầy như mây trắng, chỉ còn vài ngọn thông nhú trên lớp bông gòn trắng đục này!

Con gái Dalat vào mùa này má ửng hồng như hai quả đào. Chủ hàng quán bên chợ lầu thường mặc áo dài, dù là bán quán ăn. Café Tùng truyền thống và quán Lục Huyền Cầm của vợ chồng Lê Uyên Phương thỉnh thoảng ca sỹ Khánh Ly từ Sài Gòn lên góp tiếng hát là hai nơi tôi thích đến.

Ngày đó hoa đẹp tập trung ở vườn Bích Câu dưới chân Đồi Cù nhưng tôi vẫn thích hàng đào rừng ven hồ hơn.

Đào rừng Thailand, 2013, chỉ mang tính thuyết minh

Hơn ba mươi năm sau tôi có dịp quay lại chốn này để cảm nhận rằng … “Hãy yêu những gì bạn sẽ không bao giờ gặp lại lần thứ hai trong đời”!

Ai trước đây có kỷ niệm với Dalat hãy giữ trong lòng thì nhớ … đừng quay lại thành phố này nữa nhé!

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi,
Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.
Thông reo bên suối vắng, lời dìu dặt như tiếng tơ,
Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ.
Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa.

Ai lên xứ hoa đào đừng quên bước lần theo đường hoa
Hoa bay đến bên người ngại ngần rồi hoa theo chân ai.
Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa,
Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương,
Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên.

Ôi! màu hoa đào, màu hoa đào chiều xuân nào.
Ôi! màu hoa đào như môi hồng người mình yêu,
Ôi! màu hoa đào đã bao lần vì màu hoa
mà lữ khách lắng hồn thơ dừng chân lãng du.

Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa
Cho tôi bớt mơ mộng chiều chiều nhìn mây trôi xa xa,
Người về từ hôm nao mà lòng còn thương vẫn thương
Bao nhiêu năm tháng cũ mà hồn nào tôi vấn vương.
Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai.
                                                           Nhạc và lời Hoàng Nguyên



Hôm nay trời xuân bao tươi thắm, dừng gót phiêu linh về thăm nhà. Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi, tôi đã hình dung nét ai đang cười. …  Hoa đào đầu xuân đón người phiêu linh về thăm nhà, nhưng một loại bông hoa khác mới thật là chứng nhân của mối tình với cô hàng xóm.

Đôi ta cùng đứng bên hàng tường vi.

Ngày còn học trung học, chắc không ít bạn bè cùng trang lứa với tôi mê đọc Điệu ru nước mắt của Duyên Anh. Ngoài nhân vật chính Trần Đại mã thượng, du đãng nhưng lại rất trí thức _ nói tiếng Pháp như gió _ lại vô cùng nghệ sỹ khi tán nàng Tường Vi (tôi không chắc lắm về tên người con gái này khi đọc tác phẩm này gần 50 năm trước đây!) làm caissière cho quán café của gia đình của cô bằng bài hát Cô láng giềng của Hoàng Quý.

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng gót phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười

Tôi mơ trời xuân bao tươi thắm
Đôi mắt trong đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Xao xuyến nỗi niềm yêu

Cô láng giềng ơi! Không biết cô còn nhớ đến tôi
Giây phút êm đềm ngày xưa kia, khi còn ngây thơ
Cô láng giềng ơi! Tuy cách xa phương trời tôi không hề
quên bóng ai bên bờ đường quê, đôi mắt đăm đăm chờ tôi về

Năm xưa khi tôi bước chân ra đi
Đôi ta cùng đứng bên hàng tường vi
Em nói rằng em sẽ chờ đợi tôi
Đừng nói đến phân ly!

Cô láng giềng ơi! Nay bóng hoa bên thềm đã thắm rồi
Chân bước vui bên bờ đường quê
Em có hay chăng giờ tôi về?

Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi

Bài hát còn lời thứ hai nối tiếp chuyện tình của lời thứ nhất của chàng trai bẽ bàng, rảo bước chân sáo vui tươi về xóm cho đến khi Trước ngõ đầu thôn nghe tiếng pháo, chân bước phân vân lòng ngập ngừng! Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao, tôi biết người ta đón em tưng bừng … Thôi thì ra bờ dậu năm xưa để Giơ tay buồn hái bông hồng tường vi … và để ngậm ngùi … Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi!  Thôi thì đành quay gót không hẹn ngày về: Chân bước xa xa dần đường quê. Ai biết cho bao giờ tôi về!




Ta cùng đọc bài thơ Còn chi nữa của Lưu Trọng Lư trong tập Tiếng Thu phát hành năm 1939, rồi thưởng thức âm điệu trầm buồn do Phạm Duy phổ nhạc dưới tựa đề Hoa rụng bên sông.

Giờ đây hoa hoang dại
Bên sông rụng tơi bời
Đã qua rồi cơn mộng,
Đừng vỗ nữa, tình ơi!

Lòng anh đã rời rụng
Trên sông ngày tàn rơi.
Tình anh đà xế bóng,
Còn chi nữa, em ơi?

Còn đâu ánh trăng vàng
Mơ trên làn tóc rối?
Chân nâng trên đường sỏi,
Sương lá đổ rộn ràng.

Trăng nội vẫn mơ màng
Trên những vòng tóc rối.
Đêm ấy xuân vừa sang
Em vừa hai mươi tuổi

Còn đâu những giờ nhung lụa:
Mộng trùm trên bông
Tình ấp trong gối
Rượu tân hôn không uống cũng say nồng?

Còn đâu mùi cỏ lạ
Ướp trong mớ tóc mây?
Một chút tình thơ ngây
Không còn trên đôi má.


  
Những vật thể trong lời nhạc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh thường được lập lại là mầu xanh của áo mà người tình của ông thường mặc trong bài Tà áo xanh, hay mầu áo xanh là mầu anh trót yêu trong Thu quyến rũ, hoặc Anh quay về đây đốt tờ thư quên đi niềm ân ái ngàn xưa trong bài Lá thư hay nhặt mấy cánh hoa để kèm vào thư, lá thư xanh mầu yêu …

Ông ít nhắc đến hoa, chỉ  duy nhất hoa lan hương mầu trắng như duyên em thầm kín trong bài Cánh hoa duyên kiếp, nhưng chẳng biết hoa lan hương ông muốn đề cập đến là loại hoa gì.

Hoa lan hương mầu trắng _ Narcisse?

Hoa lan hương _ Lan hồ điệp-Phalaenopsis?

Chẳng quan trọng! Nhắc đến hoa là đẹp rồi! Ở một đoạn khác, Đoàn Chuẩn lại than thở: Hồng nào xinh không gai, bướm kia đâu ngờ bẽ bàng, yêu một sớm nhớ nhau bao mùa thu … mặc dù nghe nói bà Đoàn Chuẩn rất xinh gái! Có lẽ ông cũng trầy trật lắm mới chinh phục được bà: Il n’y a pas de rose sans épines!

Từ một nơi xa xôi cách bao núi rừng suối đồi
Anh gởi mấy cánh hoa về người yêu.
Hoa lan hương màu trắng như duyên em thầm kín
Trong hương thu màu tím buồn.
Hẹn một ngày nao khi màu xanh lên tà áo
Tình thương lên quầng mắt anh đón em về thuyền mơ.

Đêm hôm nay chợt nhớ tới nơi xa
Lúc anh về nhặt mấy cánh hoa.
Kèm vào thư lá thư xanh màu yêu
Cánh hoa duyên kiếp này tìm em trong ý thu.

Hồng nào xinh không gai, bướm kia đâu ngờ bẽ bàng
Yêu một sớm nhớ nhau bao mùa thu
Em tôi hay hờn lắm hay tô thâm quầng mắt
hay mua hoa màu trắng về
Tình em như mây trong mùa thu bay rợp lối
Rồi tan trong chiều vắng khi gió thu về thành mưa.

Đêm hôm nay ngồi dưới ánh trăng thu
Viết tơ lòng gửi tới cho nhau
Rồi ngày mai nhắn mây đưa tờ thư
Tới em đôi mắt sầu kèm theo bao ý thơ.




Có lẽ không ít người ở thế hệ trước 1975 ở Miền Nam Việt Nam lại không biết bài Mơ Hoa của Hoàng Giác, đồng tác giả những bản nhạc nổi tiếng khác: (Tung cánh chim tìm về tổ ấm) Ngày về, Lỡ cung đàn. Những bản nhạc thời ấy có bìa vẽ theo nội dung bản nhạc theo cảnh và người rất quen thuộc của họa sỹ Phi Hùng hay Bạch Đằng, hoặc vẽ theo lối lập thể có Duy Liêm nổi tiếng một thời, hoặc nét cọ rất … liêu trai với Kha Thùy Châu. Nhiều khi ai đó thích bản nhạc cũng thích và nhớ luôn … bìa nhạc.

Hình bìa một bản nhạc quen thuộc một thời

Cô hái hoa tươi, hãy dừng bước chân
Trên đường thẳm xa, tôi nhắn cô em đôi lời
Lòng không lưu luyến, sao đành cô lãng quên,
Quên người gặp gỡ trong một chiều mơ.

Chuông chiều ngân tiếng vấn vương lòng trông theo cô hái hoa,
Bước đi bâng khuâng muôn ngàn sầu nhớ bóng mờ mờ xa.

Tan giấc mơ hoa, bóng người khuất xa,
Đôi đường từ đây ai bước đi không hẹn ngày,
Người tuy xa cách nhưng lòng ta khắc ghi,
Bên đèn một bóng tháng ngày chờ mong

Lưu luyến chi nhau, thêm sầu đớn đau
Muôn trùng từ đây, trong gió sương thân giang hồ.
Đường xa xa tắp ngại ngùng chân bước đi,
Bên lòng thầm nhớ bóng hình người mơ.

Trên đường xa vắng bóng ai mờ khuất lòng thêm vấn vương,
Gió thông xa đưa reo buồn sầu nhớ tới người chiều xưa

Cô hái hoa ơi! Mắt mờ đoái trông,
Sao đành thờ ơ, trong giấc mơ ta mong chờ,
Dù hoa quen bướm âm thầm riêng có ta
Hoa còn tàn úa tơ lòng còn vương



Nhưng hoa nở để mà tàn. Đẹp “quyến rũ khói sương” như phù dung thì cũng sớm nở tối tàn, bền đến cả tháng như cẩm tú cầu (hydrangea/Hortensia) hay thậm chí hoa có tên là bất tử (immortel) cũng không sống đời được.

Hydrangea/Hortensia/Cẩm tú cầu rực rỡ

Vậy thì Kiếp hoa như dòng nhạc điêu luyện của Dương Thiệu Tước, với hợp âm trưởng khi hoa khoe sắc ban mai, chuyển sang hợp âm thứ khi về chiều. Thanh Lan một thời trẻ trung lôi cuốn giới trẻ đương thời chắc cũng ngậm ngùi khi trình bày bài hát này.


Trong vườn chiều êm nắng tươi 
Đàn bướm lượn bay tưng bừng 
Màu cánh vàng xanh trắng hồng
Rung rinh lướt êm lẫn cùng sắc hoa 

Vui đùa lững lờ bên hoa 
Bầy én lượn bay tưng bừng 
Ngàn tiếng đồng ca vang lừng
Hầu như lãng quên tháng ngày dần trôi

Nhưng bên luống hoa kìa ai ngồi thở than
Thương cho đời hoa khéo sao sớm nở tối tàn 
Mà giờ đây muôn hoa thắm tươi hương theo gió đưa 
Trong muôn sắc huy hoàng, ai có ngờ đâu
Khi ánh tà dương lắng sau màn sương. 
Hoa lìa cành biếc hồn theo gió vương .

Đàn ai tơ vương
Cho khuây mối sầu thương.



Mon amie la Rose

Một sự trùng hợp thú vị về nội dung khi Việt Nam có bài Kiếp hoa thì Pháp có bài Mon Amie la Rose, được phổ nhạc từ bài thơ của Cécile Caulier và Jacques Lacombe, do Françoise Hardy trình bày với nét mặt thanh tú và dịu buồn.

On est bien peu de choses et mon amie la rose me l'a dit ce matin.
"À l'aurore, je suis née, baptisée de rosée.
Je me suis épanouie, heureuse et amoureuse.
Au rayon du soleil, je me suis fermée la nuit, me suis réveillée vieille.
Pourtant j'étais très belle, oui, j'étais la plus belle
Des fleurs de ton jardin."

Tôi đây chỉ là vật nhỏ bé, còn bạn gái tôi là đóa hoa hồng đã nói điều ấy sáng nay với tôi.
“Vào lúc bình minh tôi được sinh ra, được làm phép bằng sương mai.
Tôi rạng rỡ, hạnh phúc và yêu thương
dưới tia nắng. Rồi tôi khép lại trong màn đêm và thức dậy già nua.
Tuy nhiên, tôi đã từng đẹp nhất. Vâng, tôi đã từng đẹp nhất
Trong những đóa hoa ngôi vườn của bạn.”

On est bien peu de choses et mon amie la rose me l'a dit ce matin.
"Vois le dieu qui m'a faite, m'a fait courber la tête
Et je sens que je tombe, et je sens que je tombe.
Mon cœur est presque nu, j'ai le pied dans la tombe, déjà je ne suis plus.
Tu m'admirais hier et je serai poussière pour toujours demain."

Tôi đây chỉ là vật nhỏ bé, còn bạn gái tôi là đóa hoa hồng đã nói điều ấy sáng nay với tôi.
“Hãy nhìn thượng đế đã tạo ra tôi, đã làm đầu tôi cúi xuống
Rồi tôi cảm thấy mình ngã, rồi tôi cảm thấy mình ngã
Tâm tôi gần như trần trụi, bàn chân tôi nằm dưới nấm mồ, rồi tôi chẳng còn hiện hữu nữa.
Hôm qua bạn vẫn còn chiêm ngưỡng tôi, rồi mai đây tôi sẽ vĩnh viễn là cát bụi.

On est bien peu de choses et mon amie la rose est morte ce matin.
La lune cette nuit, a veillé mon amie.
Moi en rêve j'ai vu, éblouissant les nuits.
Son âme qui dansait bien au-delà des nues et qui me souriait.
Croit celui qui peut croire.
Moi, j'ai besoin d'espoir sinon je ne suis rien
Ou bien si peu de choses, c'est mon amie la rose qui me l'a dit hier matin.

Tôi đây chỉ là vật nhỏ bé, còn bạn gái tôi là đóa hoa hồng đã chết sáng nay.
Đêm nay vầng trăng đã trông chừng bạn gái tôi.
Tôi, trong cơn mơ đã thấy trong những đêm rực rỡ
Tâm hồn em, lúc đó đang khiêu vũ ở bên kia thế giới của những tâm hồn trần trụi và rồi mỉm cười với tôi.    
(Tâm hồn em) tin ai đó còn có thể tin.
Còn tôi ư, tôi cần hy vọng, nếu không tôi chẳng là gì cả?
Hoặc là quá nhỏ nhoi, đó chính là bạn gái hoa hồng của tôi đã nói điều ấy sáng nay với tôi.
                                                                        Phùng Ngọc Cửu dịch


Françoise Hardy



Cherry blossom _ A blossom fell

Một nét văn hóa thú vị, theo “kinh nghiệm” của người Gypsy, một chủng tộc có gốc Châu Á phát xuất từ Romania, thường du mục đó đây trên xe kéo lợp vải, sành ca hát và bói toán _ cho rằng, nếu một cánh hoa _ blossom, hoa từ cây lớn cho quả, chứ không phải hoa bụi nhỏ _ mà rụng xuống môi một phụ nữ nào thì chớ dại tin nàng ấy: bội tình đấy!

Nếu sau này tình cờ nghe lại giọng hát của Nat King Cole thì các bạn nam nhớ kỹ kinh nghiệm này nhé!

A blossom fell from off a tree
It settled softly on the lips you turned to me
The gypsies say and I know why
"A falling blossom only touches lips that lie"
A blossom fell and very soon
I saw you kissing someone new beneath the moon
I thought you loved me, you said you loved me
We planned together to dream forever
The dream has ended, for true love died
The night a blossom fell and touched two lips that lied.

Một cánh hoa rơi từ một (nhánh) cây
Cánh hoa đậu mềm mại trên đôi môi mà em quay về phía tôi.
Người du mục Di-gan nói nên tôi hiểu vì sao rồi:
"Một cánh hoa rơi chỉ chạm vào đôi môi nào gian dối thôi".
Một cánh hoa rơi rồi chẳng mấy chốc
Tôi thấy em hôn một người nào đó vừa mới đến dưới ánh trăng.
Tôi ngỡ rằng em đã yêu tôi,còn em đã nói yêu tôi.
Đôi ta cùng nhau dự định mơ màng mãi thôi.
(Nhưng rồi) Giấc mộng tàn bởi tình yêu chân thật đã chết
Vào buổi tối mà một cánh hoa đã rơi rồi chạm vào đôi môi gian dối.
                                                                                  Phùng Ngọc Cửu dịch




Mai trắng


Xuân ở Việt Nam, được hiểu là tết, là mùa hoa nở rộ. Ngày xưa, một thời thanh bình dưới nền Đệ Nhất Cộng Hòa, khi chiến tranh chưa tàn phá đất nước thì cây cỏ tốt tươi: Xuân vừa về trên bãi cỏ non. Tiếc rằng cảnh thanh bình ấy đã sớm lụi tàn.

Thôi, hãy dẹp bỏ muộn phiền để dành cho mình một phút thanh thản với Hoa xuân. Hoa sẽ nở và sớm nở trên đất nước Việt đáng thương và đáng yêu này.

Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió Xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung tròn

Hoa chẳng yêu lũ bướm lả lơi
Muốn yêu anh vác cầy trên đồi
Hay là yêu chiến sĩ ngàn nơi
Thấy hoa tươi cuời bỗng thương đời

Xuân! Hoa còn tươi mãi
Hoa vì nhân thế biết sum vầy cuộc vui
Xuân! Hoa nở vì ai
Tay nhịp bàn tay cùng đắp xây ngày mai
Có một chàng thi sĩ miền quê
Ngắt bông hoa biếu người xuân thì
Có một đàn em bé ngoài đê
Hát câu i tờ đón Xuân về

Những đoàn người trên luống cầy nâu
Thấy hoa xuân phép lạ ra màu
Bỗng nhủ lòng ra sức cầy sâu
Tiếng ca như thể tiếng kinh cầu
Hoa bèn yêu bóng dáng cần lao
Bắt tay nhau tránh cuộc cơ cầu
Người cùng mùa đã thoát vực sâu
Sức reo hoa nở lúc Xuân đầu

Xuân! Hoa tỏa hương mới
Nhân quần ân ái đã kêu đòi niềm vui
Xuân! Hoa là tình tôi.
Ðua nở cùng ai cùng quyến luyến mọi nơi
Có một bầy thôn nữ nhìn hoa
Chúc cho Xuân vui vẻ thúi hòa
Có một vài tóc trắng thầm mơ
Ước cho hoa nở mãi không già.
                                     Nhạc và lời Phạm Duy




Vườn hồng năm xưa, Ban Mê Thuột, tết Giáp Thân, 2004.

Những ngày tháng êm đềm nơi vườn nhà vui với cỏ cây. Xuân năm ấy, mấy trăm gốc hồng rộ hoa cùng một lúc, hương tỏa ngát, ngào ngạt và rực rỡ vào những ngày giao mùa: cuối và đầu năm.
Tháng 7-2015, nhân một chuyến về Ban Mê Thuột thăm mẹ già, tôi quay lại căn nhà xưa đã bỏ hoang 8 năm!  Vườn xưa tan tác không còn gì ngoài cỏ dại và lau sậy. Thật kỳ diệu, cây nguyệt quế vốn được săn sóc kỹ ngày xưa, qua bao năm tháng không ai chăm chút, nay vụt lớn quá mức tưởng tượng, hoa vẫn trổ hương thơm ngào ngạt!

Come back to Soriento! Trở về mái nhà xưa!

Vườn xưa còn thoảng hương em,
Vấn vương theo gió sợi mềm tóc xanh.
Chim bay bỏ nhánh khô cành
Người xưa xa thẳm bước đành về đâu?
                                                  Hồng  A

Viết và gửi từ Thái-Lan, một chiều cuối năm.
Ngày 6 tháng 2 năm 2016, nhằm ngày 28 tháng chạp âm lịch.

Phùng Ngọc Cửu.

Tuesday, December 29, 2015

Giáo Dục và Trải Nghiệm

Hồi còn đi học bậc trung học, hình như tôi chưa bao giờ tự hỏi rằng mình học những kiến thức học đường sau này ra để làm gì, ứng dụng vào cái gì trong thực tế cuộc sống. Chỉ biết học là học.

Cho mãi đến năm học lớp 12B, trước viễn tượng tiềm tàng kẻ ở người đi (lính) sau khi thi tú tài 2 và trước bậc thềm đại học, trong lớp tôi, nhất là bọn nam sinh tỏ ra cóc cần đời. Tôi còn nhớ anh bạn BHC cùng lớp, đến giờ học giáo sư nào cũng đứng lên đặt vấn đề, giọng vừa hằn học, vừa châm biếm: Thưa thầy học rơi tự do sau này ra đời để làm gì? ... Em không nghĩ cuộc đời em có lúc nào phải sử dụng định luật này ... Thưa thầy, học quân sự học đường thì phải bắn súng chứ ...? chứ bước đi một hai kiểu này chẳng giúp gì lợi cả ... Bên phải ... quay ... Thưa thầy làm sao mình biết bên nào là bên phải ...? À, bên phải của thầy là bên tay thầy ... đeo đồng hồ!!! Thiệt hết biết! Nhưng bọn nam sinh chúng tôi lại có ý ngầm ủng hộ bằng những tràng cười phá lên.

Ngay năm đầu đại học, tôi chuyển qua học ngành khoa học xã hội và không còn học bất cứ môn nào liên quan đến toán-lý-hóa nữa. Lúc này tôi tự nhủ rằng bao nhiêu năm đèn sách, học những môn khó nuốt này, nay xem như bỏ hết. Tuy nhiên, tôi chẳng buồn, chẳng luyến tiếc. Khoa học xã hội đòi hỏi kiến thức về văn chương, sử địa, và nhất là ngoại ngữ. Như thế, những kiến thức học ở trung học không phải bỏ đi tất tần tật.

Sau này tôi lại có dịp quay lại các môn khoa học, nhất là toán học, với tư cách là giáo viên toán dạy bằng tiếng Pháp và hiện nay là giáo viên toán dạy bằng tiếng Anh. Tôi càng thấm thía rằng những gì ngày xưa thầy cô dạy cho mình nay đều đắc dụng khi mình trải nghiệm với thực tế cuộc sống. Kiến thức thầy cô giảng dạy vẫn còn vang bên tai.

Tôi vẫn nhớ thầy Chu Hàm Ninh dạy tôi năm lớp nhất, trường Tiểu học Nguyễn Công Trứ Ban Mê Thuột. Thầy Ninh nổi tiếng dữ đòn. Bạn đồng môn đồng tuế của tôi đều nhớ điều này, dù qua 52 năm rồi! Hồi đó, ngay đầu năm học, thầy buộc mỗi đứa chúng tôi đều phải có trong tay quyển “Tâm hồn cao thượng” của Hà Mai Anh. Đây là một quyển sách gồm nhiều câu chuyện nhỏ nhưng mang tầm giáo dục đạo đức luân lý học đường rất cao, được xem như "luân lý giáo khoa thư" của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, từ việc dạy cho học sinh cách ứng xử ở ngoài đường: đang đi nghe quốc ca phải đứng lại nghiêm trang ngả mũ chào; thấy đám tang phải dừng lại ngả mũ chào người quá cố; dắt người già hay tàn tật qua đường; không tham của rơi; không lãng phí thực phẩm; cho đến sinh hoạt trong trường lớp: giúp đỡ bạn, nhường nhịn bạn, phản kháng lại nạn ăn hiếp, bắt nạt ...

Đây là quyển sách có nội hàm công dân giáo dục (Instruction civique, tiếng Anh là Civics) rất căn bản, giúp cho học sinh biết cách ứng xử văn minh hay biết cách điều chỉnh hành vi cho phù hợp với xã hội. Nếu các thế hệ học sinh Việt Nam vẫn tiếp tục được giáo dục theo tinh thần này, tôi tin chắc rằng ngày nay người Việt nam nhìn người Nhật theo chiều đồng đẳng, và khí phách hơn khi đối diện với bất kỳ một dân tộc nào. Buồn thay, ngày nay, người Việt bị than phiền (hay bị khinh thường?) nhiều về hành vi không hợp cách nơi cộng cộng, về thiếu hẳn chuẩn mực văn minh tối thiểu, nhất là khi ra nước ngoài, vốn không còn là chuyện lạ nữa, biết rằng trong trường học vẫn nghe nói có môn ... giáo dục công dân (chứ không phải công dân giáo dục!!!), nghĩa là phải giáo dục công dân vì họ ... hoang dã! (mặc dù giáo dục hoài mà vẫn ... hoang dã!!!) Điều này thật đáng để suy gẫm.

Cũng năm lớp nhất trường Nguyễn Công Trứ, thầy Ninh dạy cho chúng tôi môn lịch sử. Tôi còn nhớ cả lớp sôi sục căm thù những viên sỹ quan Pháp ngạo ngược như Ngạc-Nhi (Francis Garnier) và Henri Rivière, đồng thời hét lên vui sướng khi hai ông này bị quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc giết ở Ô Cầu Giấy, Hà nội.  Học sinh chúng tôi cũng kính cẩn khi học về những nghĩa sỹ chống Pháp: Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám. Tôi không nhớ tình cảm của mình khi học lịch sử những năm lớp nhỏ hơn, nhưng còn nhớ là rất thích bộ truyện sử bằng tranh về Ngô Quyền và rất ghét con người phản nghịch Kiều Công Tiễn đã giết nghĩa phụ của Ngô Quyền là Dương Diên Nghệ. Chưa hiểu sâu xa lắm nhưng tôi luôn biết rằng Phạm Ngũ Lão, Mai Hắc Đế, Trần Bình Trọng, Nguyễn Biểu là những anh hùng dân tôc Việt Nam khí phách. Không hiểu sao tôi nhớ môn lịch sử học ở tiểu học hơn là trung học.

Thầy giáo chúng tôi khuyên chúng tôi nên đọc sách này, sách kia, truyền thụ sự kiện lịch sử và kiến thức địa lý cho chúng tôi mà không kèm theo áp đặt tình cảm yêu thương người này, căm thù người kia … Sau này lớn lên chúng tôi cảm nhận được cách giáo dục theo tôn chỉ dân tộc, nhân bản, khai phóng  mà càng yêu quý hơn nền giáo dục mà chúng tôi được thụ hưởng. Với tôn chỉ như vậy tôi nghĩ nền giáo dục của bất cứ quốc gia văn minh nào cũng thỉ thể hiện đến thế là cùng!

Giáo trình Cours de Langue et de Civilisation Francaises, thường được gọi tắt là Mauger, quyển 2
 
Dixième leçon: Dans le vignoble champenois _ Cours de Langue et de Civilisation Françaises, Tome 2Bài học số mười: Trong vườn nho miền Champagne _ Giáo trình Ngôn ngữ và Văn minh Pháp, Quyển 2


Dix-huitième leçon: La Bourgogne et les Bourguignons _ Cours de Langue et de Civilisation Françaises, Tome 2
Bài học số mười tám: Miền Bourgogne và người Bourgogne _ Giáo trình Ngôn ngữ và Văn minh Pháp, Quyển 2

Quyển sách này đã từng là bạn thân của tôi, sách gối đầu giường của tôi 47 năm trước đây! Đây cũng là một trong những quyển sách xưa nhất mà tôi còn giữ lại cho mình sau bao nhiêu năm bể dâu!

Bạn thường yêu thích nền văn minh của sinh ngữ mà bạn học, đó là một tâm lý tiềm tàng. Bố mẹ tôi khuyên tôi chọn sinh ngữ Pháp khi tôi vào lớp đệ thất, mặc dù sau này các bạn học Anh văn hay chế diễu rằng tôi học thứ ngôn ngữ lỗi thời vào những năm đó. Dù sao thì tôi cũng không có ý niệm gì về sinh ngữ cần chọn lựa khi mình bước vào năm học đầu tiên của trung học đệ nhất cấp!  Tất nhiên, sinh ngữ ở đây hàm ý không phải là tiếng mẹ đẻ. Dưới nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa, học sinh chọn học sinh ngữ chính từ năm đệ thất (lớp 6) là Anh văn hoặc Pháp văn, học cho đến lớp đệ nhất (lớp 12) và sinh ngữ phụ là Pháp văn hoặc Anh văn từ lớp đệ tam (lớp 10) học cho đến lớp đệ nhất (lớp 12). Riêng học sinh ban D (ban văn chương-cổ ngữ) bắt buộc phải học thêm một “cổ ngữ” là tiếng Hán hay Latin.

Thế nhưng, nếu tôi nhớ không lầm, học sinh trung học đệ nhất cấp chúng tôi cũng đã được học thêm Hán văn mỗi tuần một giờ với giáo sư Đương khả kính. Thầy Đương có một đặc điểm “đáng kính” là … không hề có một học sinh nào sợ thầy theo đúng nghĩa tình cảm học trò!!! Tôi nhớ ngày xưa học sinh không hỗn xược với thầy giáo của mình. Bọn họ chỉ lợi dụng tính tình hiền hòa của thầy để “làm tới”, nghịch phá cho thỏa thích trong giờ học của thầy mà thôi. Như vậy, so với chương trình trung học hiện nay, chúng ta đã học nhiều hơn thế hệ học sinh bây giờ đến hai ngoại ngữ đấy nhé!

So sánh cách học ngoại ngữ bây giờ với quá nhiều phương tiện hỗ trợ, tôi thấy ngày xưa, dù phương tiện hết sức eo hẹp, mình cũng được học giáo trình có cấu trúc cân đối về văn phạm lẫn văn minh và văn hóa, có khi hay hơn là đằng khác. Học sinh Pháp văn học bộ Cours de Langue et de Civilisation Françaises, thường gọi tắt là bộ Mauger, gồm 4 quyển; học sinh học Anh văn học bộ English for Today gồm 6 quyển với nội dung truyền đạt kiến thức căn bản về đời sống và kiến thức khoa học cho học sinh. Tôi nhớ riêng quyển 6 có nội dung văn chương, trong đó những bài như The Open Window của Saki, The Snob của Morley Callaghan, … mang tính trào phúng nghịch ngợm hay phân tích phức cảm vô cùng thâm thúy và ... bi tráng! Phần này xin nhường lại cho thầy Bùi Dương Chi thẩm định và giải thích thêm, học trò không dám múa rìu qua mắt thầy!


Bộ sách giáo khoa gốc English for Today gồm 6 quyển, với logo hai bàn tay hữu nghị.
tôi học ban B _ toán-lý-hóa _ nên học sinh ngữ cũng chỉ để đối phó, cố lấy điểm trung bình chứ không say sưa gì môn học này cho lắm. Sau này, khi lên đại học, Học viện QGHC tôi theo học được đại học Michigan-Hoa Kỳ bảo trợ nên sinh viên ở đây buộc phải chọn tiếng Anh làm ngoại ngữ duy nhất để học, và học cật lực! Bỗng dưng nghĩ đến tiếng Pháp là ngôn ngữ mình học từ thuở còn trẻ con, nay bị buộc phải chia tay nó theo một ý nghĩa nào đó, tôi thấy buồn buồn nên quyết định vẫn tự học để nó không bị mai một đi. Lúc đó tôi mới có cảm nhận rõ nét rằng tôi yêu tiếng Pháp chỉ bởi vì nó là một phần tuổi thơ của tôi!

Năm tôi học đệ lục, có lần thầy Đỗ Duy Nội dạy Pháp văn _ sau này thầy lại dạy tôi ở lớp 12, có biệt danh do học trò đặt là Monsieur Sorbonne! _ mô tả tháp Eiffel cho cả lớp nghe. Bọn học sinh Pháp văn chúng tôi cứ là tròn xoe mắt thán phục, mặc dù sau đó mau chóng quên đi bài “tả chân tháp Eiffel” trong giờ ra chơi vốn có nhiều trò chơi đánh đinh đánh đáo vui và hấp dẫn hơn!

Thầy Thân Trọng Sơn dạy Pháp văn năm tôi học lớp 11. Chính thầy là người truyền cho tôi niềm say mê thơ Pháp với bài Sonnet d’Arvers của Félix Arvers.

Hơn ba mươi năm sau, tôi may mắn được Cộng đồng Pháp ngữ (Communauté de la Francophonie) tuyển chọn để đào tạo giáo viên dạy toán bằng tiếng Pháp rồi đưa qua Pháp tu nghiệp. Những ngày tháng ở Pháp _ tôi đi Pháp ba lần: 1996-1997, 1999, 2006 _ học ít, đi chơi nhiều nên tôi có cơ hội trải nghiệm. Những gì tôi được học ở trường trung học thời Việt Nam Cộng Hòa giúp tôi trải nghiệm rất nhiều, rất rất nhiều!

RƯỢU TA THỜI BAO CẤP

Quay lại thời còn mài đũng quần ở bậc trung học, sau một hai năm học Hán văn với giáo sư Đương, hầu như mọi kiến thức đều trả hết cho thầy … ngay sau giờ học. Duy có một điều tôi còn nhớ tận hôm nay là bài học giáo sư dạy bọn tôi khái niệm về tính chất tượng hình và cấu trúc của chữ Hán (ideograph hay ideogram), trong đó từ TỬU là một ví dụ.
Từ này khá dễ viết. Đó là sự kết hợp từ hai phần: phần bên tay trái là bộ thủy gồm ba nét phẩy, chỉ chất lỏng và phần bên tay phải là hình mô tả cái chai có nước bên trong!

Thế là, ngay từ thời niên thiếu, bài học số mười, số mười tám của bộ Mauger và bài tập viết Hán văn giáo sư Đương đã dạy tôi về … rượu. Hình như Tửu đã ngấm vào tôi mất rồi!

Thời còn là sinh viên, trước 1975, tôi và bạn bè không có thói quen nhậu nhẹt. Hàng tháng, sau khi nhận được học bổng ít oi, bọn tôi thường đi xi nê, đi uống cà-phê nghe nhạc, lâu lắm mới làm một chai bia larue với cái lẩu ở đường Nguyễn Tri Phương, Sài-Gòn, là khu nhậu nhẹt với món đặc sản nghêu-sò. Chỉ khi nào có dịp họp mặt với đồng môn khóa đàn anh mới được thưởng thức rượu tây: Napoléon, Martel … vốn rất hiếm và đắt lắm vào thời đó.

Bôn ba không qua thời vận. Từ năm 1979, tôi làm thợ tiện cùng hợp tác xã với thầy Bính, anh Huỳnh Đức Hoàn (đã mất, anh của cô Mùi), anh Hoa (biệt danh “Nghĩa chùa”) và Tựu, là hai anh của cô Võ Thị Chung. Mỗi buổi chiều sau giờ làm việc, anh Hoa, Tựu và tôi cùng các chiến hữu thường đến mấy quán nhậu đường Y-Jut tìm cái gì cay-cay cho quên đời! Loại rượu chúng tôi uống ngày đó gọi là rượu thuốc, có màu nâu, được bảo cho biết là ngâm với thuốc bắc!!! Chúng tôi không tin lắm nhưng vẫn cứ nhắm mắt đưa chân! Thật ra đó chỉ là thứ rượu đế rẻ tiền, thêm màu của hà-thủ-ô để đánh lừa thị giác và thêm thuốc … trừ sâu để tăng nồng độ để đánh lừa vị giác mà thôi. Chỉ cần uống loại rượu bổ này đều đặn một thời gian là bổ ngay xuống mồ! Kinh quá!

Từ năm 1985, gọi là khởi đầu thời mở cửa, các hợp tác xã kinh doanh mậu dịch phát triển tự do hơn. Về mặt nhậu nhẹt có món bia tươi, đóng chai hay đong vào cái ca to. Loại giải khát có chất cồn này tỏ ra hấp dẫn dân lưu linh hơn, nhưng thuộc dạng “hàng mẫu không bán” hay “hết hàng” mau chóng! Muốn uống thứ này thì túi tiền phải rủng rỉnh, vì người ta không bán bia không mà bắt buộc phải kèm theo “mồi”, nghĩa là muốn mua một lượng bia nào đó phải mua thêm một đĩa nhắm với giá cắt cổ mà chẳng ngon lành gì!!!

Tiến thêm một bước nữa lên thiên đường … là món rượu rắn: rắn hay tắc kè ngâm trong một cái thẩu to làm mẫu ở quán nhậu, còn thứ rượu rắn chủ quán đưa ra phục vụ với nhãn quảng cáo bổ gân bổ cốt (hay liệt gân liệt cốt!), hết đau lưng nhức mỏi hay thậm chí “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử …” thì có trời mới biết rượu này ngâm với thứ gì, với con chi chi, và công dụng của nó được bao nhiêu phần trăm so với quảng cáo!!! Chỉ biết thời gian này bọn tôi nhậu tít cung thang. Nhiều đêm tôi phải bò qua cầu để vào nhà …!!!

 
Bình rượu rắn hổ mang chúa đã ngâm trong nhiều năm rồi.
Hình chỉ mang tính biểu tượng, không sát với nội dung bài viết
vì chủ nhân của bình này giàu có, ở đường Tự Do, Sài Gòn.
Hình chụp ngày 21-12-2015

Khi đặt chân đến cửa thiên đàng thực sự thì được nếm món rượu (máu) rắn chính thống, mắt thấy-tai nghe-tay sờ đàng hoàng! Cả bọn chung tiền đến tiệm nhậu rượu rắn. Trong bếp có một cái chuồng to nhiều ngăn, bao bằng lưới mắt cáo nhỏ. Trong chuồng đầy những rắn độc. Rắn hổ mang là đắt nhất. Thực khách chỉ việc chỉ con rắn nào trong chuồng là a-lê-hấp, vài phút sau có một chai rượu pha với máu rắn đỏ lòm bưng ra bàn. Khách cứ tại vị an tọa lai rai rượu rắn với đậu phụng, còn món nhắm làm từ xác con rắn được chọn thì … cái gì cũng phải từ từ! Một lần, tôi “may mắn” được bầu làm chủ xị, nghĩa là được uống ly rượu có quả tim con rắn còn sống! Đầu bếp đưa ra một cái chén chung bé như quả trứng cút có trái tim con rắn bé tí còn thoi thóp trong đó. Rượu rắn được trịnh trọng rót vào chén chung và rồi …dzô! Tôi nhắm mắt nuốt trọn mọi thứ rồi nín thở để khỏi … ộc ra! Sau này, tôi kể giai thoại về kiểu uống này cho mấy người bạn Pháp nghe, họ trợn đôi mắt tròn vo! Ở Việt Nam, con gì “nhúc nhích” đều có thể ăn và nhậu tất.


Nhậu với anh Võ Văn Hoa (biệt danhNghĩa chùa”, anh của Tựu và Võ Thị Chung)
tại một đám cưới xã viên hợp tác xã tổ chức tại tư gia.
Ban Mê Thuột, 1982.

Những trải nghiệm này qua hiện thực xã hội trong một giai đoạn lịch sử, không hề hiện hữu hay được dạy tí li ông cụ nào trong sách giáo khoa thuở còn đi học!

RƯỢU TÂY

Nếu những ngày còn… nhậu ở quê hương với nhiều loại rượu bia mà tôi chưa bao giờ quan tâm hay tình cờ mục kích nó được chế biến như thế nào thì ngược lại, tôi lại tò mò tìm kiếm trải nghiệm văn hóa rượu ở Pháp, xứ sở nổi tiếng về rượu vang, và những nơi khác tôi đi qua. Hai bài học số 10 và 18 trong cuốn Mauger II lại bật lên trong ký ức của tôi.

Rượu vang (vin) được làm từ nước cốt nho. Nho để làm rượu được trồng từ vùng Champagne trải dài xuống miền nam nước Pháp, tập trung cao điểm ở vùng miền trung: Bourgogne, Rhône-Alpes …

Ta hãy đọc bản dịch bài số 10.

TRONG VƯỜN NHO VÙNG CHAMPAGNE. Ông Vincent biết chút ít về vùng Champagne; ông đã đến đó tháng bảy năm ngoái với gia đình bạn bè Legrand của mình… Ông đang đến gần Reims; thời tiết quang đãng: chẳng mấy chốc ông Vincent thấy từ xa hai tháp chuông của ngôi thánh đường lừng danh.

Nhưng trước khi ngôi thánh đường hiện ra trước mắt mình, ông ngừng xe lại trong một ngôi làng đầy ắp không khí sinh động vui tươi, bởi vì mùa hái nho vừa chấm dứt. Dọc hai bên con đường, người ta còn thấy những thúng mủng to đùng trong đó nho được những người thu hoạch nho chở đến tận máy ép, trước những cánh cửa, những người đàn ông cọ rửa những thùng phuy kỹ lưỡng.

Vị du khách của chúng ta bắt chuyện với một người trồng nho: “Mùa thu hoạch năm nay tốt chứ? – Khá dồi dào, nhưng rượu sẽ ngon hơn… và có thể tôi sẽ bán nó đắt hơn. – Có phải ông là chủ ruộng nho mà tôi thấy trên những đồi cạnh đây không? – Tôi chỉ sở hữu vài mẫu, tôi canh tác chúng với anh em ruột và anh em rể của tôi… Nhưng tôi không muốn rằng ông bỏ đi ngay đâu. Hãy vào bếp ngồi nhắm rượu tươi đi, vừa đúng giờ buổi ăn lỡ rồi đó, chúng ta có nửa tiếng để tán dóc. – Rượu tươi này, có phải thuần là nước cốt nho không? – Đúng hẳn như thế, nút chai chưa bắn ra đâu! Chúng ta còn phải đợi lâu nữa. Nhưng rồi ông sẽ thấy ở Reims rượu miền Champagne sủi tăm như thế nào. Người ta sẽ giữ chúng trong hầm rượu trong nhiều năm để chúng lên men. Ông sẽ đi khắp nơi, dưới thành phố, trong những hành lang mênh mông chứa hàng triệu triệu chai.”

Rượu champagne ngon nổi tiếng thế giới, với hình tượng nút chai khi được khui nổ bôm bốp thật vui tai. Nó ngon đến độ cả một đoàn quân Đức, nổi tiếng thiện chiến trong cả hai cuộc thế chiến bị tóm trọn gói không mất một viên đạn. Hãy nghe bản dịch về câu chuyện có thật 100%, tường thuật trong quyển CHRONIQUE DU XXe SIÈCLE (Biên Niên Kỷ Thế kỷ 20)

Quân Đức bị bại trận bởi rượu sâm-banh 
Pháp, ngày 12 tháng 9, 1914
Mặc dù lính bộ binh bị kiệt lực và giãn xa một cách nguy hiểm khỏi các tuyến tiếp tế, các toán quân Pháp và Anh vẫn bám sát gót quân Đức vốn đã được lệnh lui binh từ hôm qua. Quân đồng minh nhận thấy nhiều điều kỳ cục. Các tù binh rơi vào tay họ đa số đều mệt lử, nhưng một số lại có các triệu chứng dễ dàng chỉ dấu một lý giải khác: hàng nghìn chai rượu vang rắc trên đường rút lui của quân thù. Trong những hầm rượu ở Montagne de Reims, rất nhiều quân Đức được tìm thấy say bí tỉ, bị đơn vị của họ bỏ rơi. Người và ngựa mở đường đi trên đống chai vỡ và vỏ chai không. Thế là tổng tư lệnh Joseph Joffre đã tìm thấy trong rượu sâm-banh và rượu vang Pháp những đồng minh không chờ đợi.

Một vườn nho và công ty rượu vang ở Bourgogne, tháng 5, 2006.

Ta hãy đọc bản dịch bài số 18.

VÙNG BOURGOGNE VÀ NGƯỜI VÙNG BOURGOGNE. “La Bourgogne hay le bourgogne? – Đừng lầm lẫn! La Bourgogne, đó là một thung lũng rộng trong đó, xuyên qua những đồng ruộng và đồng cỏ, con sông Saône với dòng nước chậm và êm đềm chảy; đó là những ngọn đồi trồng nho được canh tác bởi những người nông dân lực lưỡng, khuôn mặt đỏ ửng, giọng nói ồm ồm; đó là những nhà thờ hiển thánh nổi tiếng, ví dụ như Vézelay, nơi những người hành hương hàng năm đến đây đi rảo khắp; đó là vùng đất trên đó ý vị đời sống tinh thần cùng tình yêu vật chất hòa quyện chặt lấy nhau; vùng đất chứng kiến sự ra đời của Bossuet, nhà đại hùng biện tôn giáo của thế kỷ 17, thi sỹ Lamartine, cùng biết bao con người tỏa sáng. – Biết bao sự vật cùng con người cùng một lúc, Chúa ơi! – Đúng thế đấy! Tỉnh này giàu có và đa dạng như rượu vang của nó vậy, rượu bourgogne nổi tiếng (viết với chữ b thường!) – Vậy ông gọi thế nào về những loại khác nhau của cùng một thứ rượu? Tôi biết từ này, nó nằm trên chót lưỡi của tôi đấy. – À, ông muốn nói đến đặc thổ (crus) khác nhau. Có đến hàng tá đấy. Và người vùng Bourgogne rất hãnh diện về rượu vang của họ. Đó là những người sành rượu tinh tế. Này, hãy đến gặp họ nếm rượu, trong những vụ mua bán rượu hàng năm. Phải thấy vẻ nghiêm trang của họ khi họ lắc nhè nhẹ cái cốc bạc của mình, đưa qua đưa lại hồi lâu dưới mũi để ngửi hương thơm, cuối cùng nâng lên môi rồi uống. – Đó có phải là tính tham ăn tục uống không? – Không, đó gần như là (xin thứ lỗi!) lòng thành kính!”

Ta sẽ nói sau về văn hóa thử rượu và uống rượu.

Còn nho ở Úc được trồng tập trung vùng Margaret River, Western Australia, phía nam Perth, có mật độ trồng rất cao.

Một vườn nho ở Margaret River, Western Australia, tháng 10, 2015.
Nho trồng theo luống, bò lên giàn thấp và thẳng đứng bằng dây thép căng thẳng theo chiều ngang. Tương tự như cây cà-phê, mấy năm đầu nho bói cho qu không sai và chất lượng quả chưa ngon. Người ta nói rằng cây nho càng nhiều tuổi càng cho nhiều quả tốt. Hồi ở làng Lacenas, Villefranche-sur-Saône, tôi gặp những gốc nho trong một vườn nho có tuổi thọ đến 60 tuổi, tính vào thời điểm năm 1999!


Gốc nho “cổ thụ”.
Không phải cây nho tự ra quả khi đến mùa như mít, soài mà phải tỉa chúng hàng năm. Tỉa nho là giai đoạn quan trọng quyết định việc cho quả tốt và vụ mùa thu hoạch.

Nho được tỉa hai lần trong năm, cuối đông sau những vụ đông giá và đầu hè gọi là tỉa quả. Người ta cũng lợi dụng giai đoạn này để bón phân, bảo đảm cho một vụ thu hoạch dồi dào.

Tỉa cuối đông vào lúc thực vật nghỉ ngơi, tiềm sinh, khi nhựa cây đi xuống gốc. Thời kỳ lý tưởng là giữa tháng hai và tháng ba, nhưng vẫn cần tránh thời kỳ băng giá. Nếu thời tiết trong vùng dịu nhẹ thì có thể bắt đầu tỉa nho ngay khi chúng rụng lá. Trong những vùng lạnh giá nhất, nơi sự đóng băng vẫn có thể xảy ra vào tháng ba, ta có thể đợi đến tận đầu xuân để tỉa, nhưng đây là lúc cuối cùng, không thể đợi thêm được nữa.

Tỉa nho vào mùa hè còn gọi là tỉa quả (taille de fructification), công việc này không bắt buộc. Việc tỉa bao gồm việc giới hạn con số tối đa năm chùm cho mỗi cành mới ra và cắt sát những cành không cho quả. Ta cũng có thể loại bỏ tất cả những chùm bé vì năng suất của chúng sẽ yếu kém.


Nho đơm hoa. Margeret River, Western Australia, tháng 10, 2015.

Nho chín, sẵn sàng để thu hoạch.

Ở Pháp, mùa hái nho là vào tháng 9, đầu mùa thu. Đây đúng là hội hè ngày mùa. Nông dân đổ ra đồng thu hoạch nho, ăn uống.

“Đầm hái nho”, Giáo trình Ngôn ngữ và Văn minh Pháp, Quyển 2.
 
Mùa hái nho ở Bourgogne.

Thu hoạch bằng thủ công.
.
Còn đây cũng là một vụ thu hoạch bằng tay sau một nhà thờ ở làng Lacenas, Villefranche-sur-Saône. Một buổi sáng tôi dậy sớm, đi dạo trong làng. Trời rất lạnh. Tôi băng ra sau một nhà thờ cổ và thấy một vườn nho đã thu hoạch. Tôi tò mò phát hiện trên mỗi gốc nho trụi lá trơ cành vẫn còn một chùm nho đọng sương. Tôi nghĩ bụng có lẽ người ta thu hoạch bỏ sót, nhưng tại sao lại bỏ sót nhiều thế, vì trên gốc nho nào cũng đều có một chùm, mà vườn nho thì mênh mông! Tôi ngắt thử vài quả. Ngọt và mát vô cùng!

Tôi đem điều này hỏi chủ nhà tiếp đón tôi, Christian Moreau, vốn là một giáo sư đại học dạy hóa học. Ông trả lời tôi rằng đó là tặng phẩm của chủ vườn dành cho người nghèo. Thỉnh thoảng ông ta vẫn chở tôi đi chơi các làng xung quanh, dừng lại bên những cây táo (pommiers) trồng dọc ven đường, xuống xe và hái táo cho tôi, bảo rằng đây cũng là phần để dành cho người nghèo! Thật là một nét văn hóa nhân bản.

“Thu hoạch bằng tay!”. Sau khi thu hoạch, mỗi cây còn để lại một chùm nho.
Làng Lacenas, Villefranche-sur-Saône, tháng 11, 1999.
Ở Úc, vì nằm ở nam bán cầu nên bốn mùa trái ngược hẳn với bắc bán cầu. Mùa thu cũng là mùa thu hoạch nho, tức là khoảng cuối tháng ba trở đi.

Tôi không biết ở Úc có văn hóa dành nho cho người nghèo sau vụ thu hoạch hay không nhưng ở đây người ta vẫn tặng cho người nghèo phần lúa mì sau khi thu hoạch theo hình vẽ sau:

Sau khi thu hoạch, nho được chở đến các máy ép để tách phần nước cốt để làm rượu và phần vỏ và hạt để loại bỏ. 

Máy ép nho quay tay (Hình từ giáo trình Ngôn Ngữ và Văn Minh Pháp, quyển 2)
Ta có thể hình dung cấu tạo của một máy ép nho. Máy gồm một thùng, tâm đáy thùng là một thanh vít (boulon) dài thẳng đứng, gai thưa. Con tán (écrou) gắn chặt vào một nắp tròn khớp sát vào lòng bên trong của thùng. Một tay quay (manivelle) làm con tán di chuyển lên xuống, làm nắp tròn ép chặt vào nho trong thùng. Nước cốt nho chảy xuống đáy thùng theo một đường rãnh chảy ra ngoài và được hứng lấy.


Máy ép nho quay tay của công ty rượu nho Juniper Estate, Margaret River, tháng 10, 2015
Một thắc mắc nho nhỏ là trước khi máy ép nho được phát minh thì làm cách nào để ép nho lấy nước cốt? Trong quá khứ, người ta đổ nho vào một thùng lớn rồi … xắn quần vào đó đạp, dẫm cho nho dập ra, sau đó vừa hứng vừa ép lấy nước cốt. Tất nhiên, trước khi vào thùng dẫm, thân thể phải được kỳ cọ thật sạch, nếu không rượu vang sản xuất bằng cách này uống vào là hết … đi đầu thai!


Đạp nho để lấy nước cốt.

Thật ra, công việc đạp dẫm nho (le foulage du raisin) nặng nhọc này dành cho cánh đàn ông vai u thịt bắp phụ trách vẫn tốt hơn, nhưng không hiểu sao người Pháp vẫn lấy biểu tượng phụ nữ để làm công việc … cao cả này. Phải chăng việc tiếp xúc da thịt họ với nho làm cho nước cốt nho có vị … quyến rũ hơn chăng? (Người Trung Hoa ngày xưa cũng để các trinh nữ mặc quần áo thụng lên núi hái chè, bỏ chè vào người để mồ hôi tiết ra ngấm vào chè. Chè này gọi là trinh nữ trà, chỉ để dành cho các bậc vương tôn công tử thưởng thức, còn dân dã thì nên … kính nhi viễn chi, đứng xa mà ngắm. Thật bất công!)

Ý tại ảnh ngoại _ ý tưởng nằm bên ngoài bức ảnh _ . Người ta vẫn thanh minh, đính chính đấy nhé: Sự thật nằm trong rượu vang đấy! (La vérité est dans le vin). Cánh đàn ông gặp loại rượu này thì … chưa uống đã say!!!

Máy ép thiên nhiên” là tặng vật của thượng đế dành cho xứ rượu vang! _
Dijon, Côte-d’Or, Bourgogne, tháng 6 năm 2006.

Tranh nề, nghệ thuật đặc thù Pháp, vẽ lên tường của cả tòa nhà.
Villefranche-sur-Saône, tháng 12-1999, quê hương rượu Beaujolais nouveau.
Nước cốt nho, sau quy trình làm tinh khiết, được trữ trong những thùng gỗ to (barriques), phình ở giữa, để chờ lên men. Ngày nay, nước nho được trữ trong các thùng bằng thép không rỉ (inoxidable) tiện lợi hơn trong việc lưu giữ cho lên men, nhưng một người trồng nho ở làng Lacenas, Villefranche-sur-Saône, nói với tôi rằng dùng loại thùng trữ này làm cho rượu mất đi phẩm chất ngon truyền thống.

Thùng thường làm bằng gỗ cây sồi (chêne), là loại cây rừng có gỗ cứng phổ biến ở Pháp. Rượu được trữ trong thùng gỗ sồi thường có vị thơm ngon do hương vị đặc trưng của gỗ sồi tiết ra và ngược lại, những thùng sồi được sử dụng lâu năm, có khi qua nhiều thế kỷ, rượu ngấm sâu vào sớ gỗ sồi tiết ngược ra rượu trữ trong thùng làm cho rượu càng thơm ngon hơn.

Nước Pháp cũng nổi tiếng về một phó sản của rượu vang là thùng barriques. Nhiều nơi trên thế giới đặt mua thùng trữ rượu của Pháp cho công ty làm rượu của mình, các công ty Úc ở bang Western Australia là một ví dụ.

Một thùng đựng rượu nhập từ Pháp của công ty rượu nho Juniper Estate, Margaret River, tháng 10, 2015
Năm 2006, tôi tình cờ được thăm một cơ xưởng làm thùng barriques ở Dijon, Bourgogne. Sau đây là những công đoạn chính làm thùng.


Xưởng xẻ gỗ làm thùng theo quy cách định sẵn.

Gỗ xẻ theo tiết diện hình thang cân có chiều rộng khác nhau,
đáy lớn là một cung tròn chứ không phải là một đoạn thng,
các cạnh bên đu là một phần của đường kính đồng tâm. Tất cả được đánh dấu cẩn thận.

Ráp gỗ vào đai sắt.

Ép thêm đai sắt.

Hơ lửa mặt trong của thùng cho gỗ nở ra.

Ép các đai sắt vào đúng vị trí của thùng.

Kiểm tra thành phẩm bằng máy ly tâm để xác định độ kín.
Thùng có chứa nước bên trong, nếu bị rõ rỉ thì loại hẳn, chứ không sửa lại.

Thành phẩm đạt tiêu chuẩn được xếp vào kho.

Chụp hình với giám đốc nhà máy làm thùng rượu.

Thùng chứa rượu được đặt xuống hầm rượu (caves) có nhiệt độ ổn định là 4oC để chờ lên men. Nhiều lâu đài cổ xưa của các lãnh chúa từ thời trung cổ đã xây những hầm rượu thật … nguy nga! Rượu trữ càng lâu năm càng tuyệt!

Hầm rượu lâu đời của lâu đài Chenonceau, Indre-et-Loire, tháng 2, 1997.

Lời nguyện cầu của người trồng nho. Dijon, 2006.

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI TRỒNG NHO
Lạy trời!
Xin cho con sức khỏe hoài hoài,
Tình yêu dài dài,
Tiền vừa đủ sài,
Công việc lai rai,
Nhưng rượu ngon tiền trao cháo múc.

Xem như quy trình làm rượu từ A đến Z tạm ổn. Bây giờ chỉ còn việc là nhâm nhi … hàm thụ từ xa!


Thử rượu với ông bạn Christian Moreau trong một hầm rượu.
Làng Lacenas, Villefranche-sur-Saône, tháng 12-1999.

Nếu nói tìm rượu vang “dzổm” ở Pháp còn khó hơn là tìm rượu ngoại thật ở Việt Nam quả là không ngoa. Tôi nghĩ có lẽ không thể có rượu giả ở đây vì, cũng giống như bao nhiêu hàng hóa khác, tiền nào của đó, thượng vàng hạ cám, chỉ có rượu với giá rẻ hay rất rẻ hoặc rượu ngon với giá cao hơn hoặc cao ngất ngưỡng. Vả lại, rượu vang được làm từ nho, mà nho lại được trồng bạt ngàn ở Pháp thì họa ai đó có điên mới táy máy nghĩ đến một nguyên liệu nào đó rẻ hơn nho để thay thế! Vả lại, ở xứ này, tội làm hàng giả, hàng nhái sẽ bị phạt rất nặng, kể cả ở tù. Hồi đầu ở Pháp, bọn tôi tiền bạc eo hẹp, lại ít tay là đệ tử lưu linh nên, khi có dịp đụng đao đụng thớt với nhau thì chỉ cần một chai vang với giá 3-4F (khoảng từ 6000 đến 8000 nghìn đồng vào năm 1997) là tự hài lòng rồi!


Ah, thiên đường đây rồi! Xin nhận nơi này làm quê hương! Làng Lacenas, Villefranche-sur-Saône, tháng 12-1999.
Trong bàn ăn ở đây, rượu là thức uống hầu như không thể thiếu, gọi là rượu bàn (vin de table). Người ta uống rượu khai vị _ liqueur hay apéritif _ trước hay sau bữa ăn để tăng phần ngon miệng, và trong giữa bữa ăn với rượu vang đỏ, trắng hay hồng tùy món ăn chính. Phần tráng miệng cũng thường bằng món phó-mát với rượu vang. Rượu thường để tủ lạnh ít lâu trước khi uống. Rượu cũng được khui rồi để cho cân bằng cùng với nhiệt độ trong phòng trước khi thưởng thức. Hầu như nhà nào ở thôn quê cũng có hầm rượu.

Tháng 11-1999 tôi đến tỉnh Villefranche-sur-Saône, gần Lyon thực tập. Một hôm trốn dự giờ thăm lớp lang thang ra chợ phiên chơi. Hôm đó là ngày lễ hội Beaujolais thật tưng bừng. Trước cổng chợ, rất nhiều bàn được xếp hàng dọc dài tít tắp, trên đó rượu tươi Beaujolais bày la liệt. Tôi tò mò đứng xem, chưa biết ất giáp gì thì những tiếng mời vang lên khắp nơi. À, thì ra thử rượu miễn phí. Cái vụ này thì tôi rất ghét nói lời từ chối! Thế là tôi thăm hết bàn này tới bàn khác, mỗi bàn “mần” một ly con con nhắm với pho-mát làm bằng sữa dê trắng phau ngon tuyệt. Đi dọc độ vài bàn thì thấy quả thật mình yếu mà còn đòi ra gió … nên lảng ra rồi đi vào chợ. Hôm đó tôi cũng xem một gian hàng bán pho-mát (fromagerie) có đến hàng trăm loại, nhiều loại to bằng cái bánh xe hơi! Bộ dao để cắt pho-mát phải gọi là “đao” thì mới đúng!


Ngôi nhà của vợ chồng Michèle-Denis ở làng Limas, Villefranche-sur-Saône, nơi tôi ở hai tuần, tháng 11-12, 1999.
Hình chụp từ cửa sổ phòng tôi ở.
Tôi vốn không phải là “sâu rượu” nên ai … cho gì uống nấy! Vì thế đã thưởng thức nhiều loại rượu vang rồi mà rốt cuộc vẫn không biết phân biệt được đâu là rượu dở rượu ngon. Không sao cả! “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, bởi vì có người bạn già, chủ nhà tiếp đón tôi là Denis Papastratidès, giáo sư người Pháp gốc Hy Lạp là tay sành rượu mà lại rất … hào phóng. Tôi được đãi rượu thường xuyên và được cho biết là rượu ngon. Vâng, Denis, tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông! Trong thời gian tôi ở nhà Denis hai tuần ở làng Limas, Villefranche-sur-Saône tháng 11-12, 1999, hầu như ngày nào cũng uống rượu. Ông ta dẫn tôi xuống hầm rượu của mình. Ô mê ly, mê ly đời ta!


Bên trái: Denis và vợ, Michèle. Bên phải: ông Grappin Gérard, hiệu trường trung học đệ nhị cấp lycée Claude Bernard ở Villefranche-sur-Saône (nơi tôi thực tập) và fiancée của ông. Ngày chia tay, tôi về Việt Nam. Tháng 12-1999.

Cặp vợ chồng này rất hiếu khách. Năm 2006, tôi lại đi thực tập ở Dijon. Nghe tin, hai vợ chồng đánh xe đến thăm tôi. Denis biết tôi thích rượu… từ lâu nên không quên mang cho tôi đến 6 chai vang vừa đỏ vừa trắng, kèm theo lời nói đùa: “Khi nào anh đến Tân Sơn Nhất, tôi sẽ báo cho hải quan ở đây biết rằng anh mang rượu quá số lượng cho phép!” Sau đó, chúng tôi xuống vùng quê ăn trưa. Hôm đó Denis đãi tôi một chai vang đỏ đặc biệt! Denis vẫn không quên hài hước: “Thưa ông Nicolas Sarkozy, hôm nay tôi mừng vì gặp lại bạn cũ nhưng vẫn không quên ông …!” Nicolas Sarkozy lúc này là bộ trưởng bộ nội vụ Pháp, sau này là tổng thống Pháp. Ý Denis là tôi uống rượu với bạn tôi nhưng vẫn nhớ đến luật giao thông nghiêm ngặt ở Pháp đấy!


Dijon, Côte-d’Or, tháng 6, 2006.
Ăn trưa với Denis-Michèle tại một nhà hàng trong ngôi làng giàu có bậc nhất của xứ rượu Bourgogne.


Trong những thương vụ buôn bán rượu, sự có mặt của các “connoisseurs” (ngày nay gọi là connaisseurs) là điều không thể thiếu. Họ là những chuyên viên về rượu, hoặc những người rất sành rượu. Người ta nói rằng vào bất kỳ một thời điểm nào đó ở Pháp, con số người sành rượu này không bao giờ vượt quá mười người! Khả năng của những chuyên viên sành rượu này là phân biệt chính xác thổ nhưỡng (terroir) nho được trồng trên đó. Mỗi loại rượu làm từ nho trồng trên “đặc thổ” được gọi là “cru”. Họ còn có khả năng biết được thời gian chính xác, bao nhiêu năm chẳng hạn, rượu nho được cất trong hầm rượu.

Họ thử rượu trong một chiếc cốc đặc biệt bằng bạc không quai, không chân, thường có hình cầu. Cung cách thử rượu như ta đã thấy như một ví dụ, trong bài học số 18 giáo trình Mauger, tựa như một “nghi thức”: “Phải thấy vẻ nghiêm trang của họ khi họ lắc nhè nhẹ cái cốc bạc của mình, đưa qua đưa lại hồi lâu dưới mũi để ngửi hương thơm, cuối cùng nâng lên môi rồi uống. – Đó có phải là tính tham ăn tục uống không? – Không, đó gần như là (xin thứ lỗi!) lòng thành kính!” Giả sử các chuyên viên này được yêu cầu thử phẩm chất nhiều loại rượu, loại này tiếp nối loại kia. Liệu dư vị của loại rượu trước còn đọng trong miệng họ hoặc trong cốc thử có làm “nhiễu” sự thẩm định chính xác phẩm chất loại rượu họ thử tiếp theo không? Tóm lại, chuyên viên không phải rửa ly hay xúc miệng vì giải pháp này không hiệu quả trong việc làm mất hết mùi của rượu. Họ đơn giản chỉ nhai một mẩu ruột bánh mì (mie) và lau cốc thử cũng bằng ruột bánh mì. Nếu rượu vang được làm từ thứ nước cốt nho do phụ nữ dẫm đạp thì dù có lau cốc bằng cả ổ bánh mì hay nhai cả ổ bánh mì thì cũng không tẩy được hương vị đậm đà quyến rũ này!

Thật thú vị khi mình không phải là một connaisseur! nghĩa là không phải chịu trách nhiệm về độ chính xác phẩm chất bất cứ loại rượu nào cả. Rượu nào cũng thử và cũng uống tất!


Thử hết giàn ly bên cạnh thì xin ngủ ở đây hết đêm nay! Dijon, Bourgogne, tháng 6, 2006.

Thử rượu vang ở công ty rượu nho Juniper Estate, Margaret River, tháng 10, 2015.




RƯỢU TÀU

Bây giờ ta ghé về ngôi nhà Đông phương để xem “văn hóa rượu” ở đây thế nào.

Hồi học trung học, trong môn Việt văn, tôi còn nhớ mấy câu thơ chữ Hán:

Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết thi

Thú thưởng ngoạn bốn mùa của người xưa rành mạch và thanh cao, trong đó tửu và thi chiếm mất một nửa.

Những thi sỹ lừng danh kim cổ Trung Hoa như Lý Bạch, Đỗ Phủ gần như kè kè hai thứ: túi thơ và bầu rượu. Tương truyền rằng giới thi nhân đương thời kính nể tài uống rượu làm thơ bẩm sinh của Lý Bạch, đặt cho ông biệt danh là Tửu trung tiên. Biệt tài “tửu nhập thi xuất” thần tốc của ông làm vua Đường Minh Hoàng cũng bái phục. Ông để lại cho hậu thế những bài thơ xuất thần khi lưu linh nhập: ca tụng nhan sắc của Dương Quý Phi ngắm hoa cùng vua Đường Minh Hoàng, nhưng vua Đường phải “năn nỉ” ông mới chịu khai bút đấy nhé! Sau này bị dèm pha, ông phải rời bỏ cung đình nhưng vua Đường vẫn cảm phục và dành cho ông đặc ân: uống rượu ở bất kỳ quán sá nào thì chủ nhân cũng không được tính tiền. Sướng nhá!

Không ai biết nguyên nhân cái chết của ông: bệnh, tự vẫn, già? Nhưng hình như người ta vẫn thích câu chuyện về cái chết “lai láng, lãng mạn” của ông: Một đêm rằm, bên bờ sông Thái Thạch, huyện Đang Đồ, Lý tiên sinh say xỉn nhìn xuống dòng nước thấy in bóng Hằng nga đẹp quá, nhảy tõm xuống vớt hình bóng nàng, chẳng dè gặp Hà bá … Nơi chỗ ông chết có một viên đình gọi là Tróc nguyệt đài (Đài truy bắt trăng).

Được chết như Lý tiên sinh bộ không sướng hơn là say xỉn rồi … bị xe tông chết à?

Đỗ Phủ cũng là thi sỹ đương thời với Lý Bạch, nhỏ hơn Lý Bạch mười một tuổi. Hai tiên sinh bầu rượu túi thơ này thân thiết nhau lắm, nhưng Đỗ Phủ có cái nhìn nặng tính xã hội hơn. Chứng kiến những bất công của xã hội đương thời, ông muốn học giỏi thi đỗ làm quan nhưng chí không thành. Thấy người nghèo đói khát, rét mướt bên lề đường, xương trắng phơi ra trong khi bọn quan tham rượu thịt ê hề ôi thối, trác táng lầu xanh, ông thốt lên:

Nguyên tác
Dịch Hán Việt
Dịch nghĩa

Chu môn tửu nhục xú

Lộ hữu đống tử cốt
Cửa son rượu thịt ôi, 
 
Ngoài đường người phơi xương chết đói.

Thi sỹ Thôi Hộ đời nhà Đường, ngược lại, đẹp trai và lãng mạn hiếm thấy, không thấy “bét nhè” như hai tiên sinh trên! Nhân một chuyến ngao du mùa xuân, vào độ hoa đào nở rộ để đi tìm vần thơ, chàng ghé qua một ngôi nhà tại một thôn vắng xin nước uống. Người con gái trong nhà bước ra “rót nước trong lu” mời chàng uống! Ôi, sao trên đời lại có một người xinh như mộng thế! Chàng từ giã nhưng lòng vẫn cứ “quay quắt”. Năm sau “bén mùi”, mượn cớ khát nước quay lại nhà cũ để gặp người xưa, chẳng dè cửa đóng then cài, nhà vắng ngắt. Buồn quá chàng khai bút, xuất thi để lại cho đời một tuyệt tác:

Đề Đô Thành Nam Trang
 
 
 
Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

Dịch nghĩa:
Đề (thơ) ở thôn phía Nam Đô Thành*
Năm ngoái ngày này tại cửa đây
Mặt người và hoa đào cùng ánh lên sắc hồng
Gương mặt ấy giờ không biết chốn nao
(Chỉ thấy) hoa đào vẫn như cũ cười với gió đông.

* Đô Thành, nay là Trường An, là kinh đô nhà Đường.

Bài thơ được nhiều tác giả Việt dịch ra nghe rất … phê!

Năm ngoái ngày này dưới cánh song
Hoa đào ánh má mặt ai hồng
Mặt ai nay biết tìm đâu thấy
Chỉ thấy hoa cười trước gió Đông
                                        (Đỗ Bằng Đoàn & Bùi Khánh Đản dịch)

Cửa này, năm ngoái, hôm nay,
Hoa đào phản chiếu mặt ai ửng đào.
Mặt người giờ ở nơi nao?
Hoa đào vẫn đó cười chào gió đông.
                                      (Trần Trọng San dịch)

Và quen thuộc hơn cả:

Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông. 
                                  (Kim Vân Kiều _ Nguyễn Du)

Chàng dán bài thơ vào cửa toan bỏ đi thì một ông lão bước ra hỏi tên chàng. Chàng khai tên tuổi rồi hỏi thăm người con gái. Ông lão khóc bảo rằng cô con gái ông mới chết vì tương tư chàng trai năm ngoái đến đây. Ông lão kéo chàng vào nhà. Thấy xác người con gái vẫn hồng hào, chàng cúi xuống, ghé sát mặt rồi … khóc! Chẳng dè nước mắt nhỏ xuống làm người con gái hồi sinh. Sau đó … chàng cưới nàng, y chang truyện cổ tích. Kết thúc thật có hậu!

Đến đây ta cần … bình luận vì có đôi điều thắc mắc. Có lẽ sử sách ghi lại có chút thiếu sót: thi sỹ đi tìm vần thơ mà chỉ khăn gói mỗi cái “bị thơ” là thấy không ổn! Vả lại trời xuân mát mẻ hà cớ gì phải khát nước? Chỉ có “lai rai một bầu” mới phải đi tìm đồ chữa lửa! Thi với tửu mà biệt ly như thế thì chỉ làm được thơ … con cóc mà thôi!

tửu lại còn là bạn đồng hành của sắc theo một trình tự bất biến: tiên tửu hậu sắc (tửu trước, sắc sau). Khi sương sương rồi mới thấy nhan sắc người con gái tăng lên gấp bội! Không tin cứ hỏi các bác lưu linh đương đại xem là biết câu trả lời chính xác ngay: tăng (temps) một: …? Tăng hai: …? Tăng ba: …? Có chút cay-cay vào thì dưới cặp mắt tưng tưng đẹp ít cũng thành đẹp nhiều, khá đẹp thành giai nhân, có khi “xấu đẹp tùy người đối diện” cũng … tuyệt sắc tuốt luốt! Ngày nay trong xã hội Trung Hoa hay một vài xã hội tương cận, theo điều tra thống kê, 99.9% các vụ tham nhũng đều liên quan đến “sắc”, trong đó dung môi là thứ không bao giờ thiếu!

Kết thúc có hậu này thật sự … rất đáng tiếc vì đượm mùi liêu trai chí dị quá đáng, nghe chừng như gượng ép! Xem ra kết thúc của cặp Rô-Méo và Ru-Lét của Shakespeare vẫn tự nhiên và bi tráng hơn nhiều. Thử tượng tượng xem, nếu chàng Thôi Hộ dán bài thơ lên cửa rồi bỏ đi ngay thì kết thúc đẹp biết chừng nào, cả chục thế kỷ sau các chàng trai bảo đảm vẫn kiên trì … nhâm nhi chờ đợi! Thế mới biết Alfred de Musset tinh tế đến chừng nào: “Aimez ce que vous ne verrez jamais deux fois.” (Hãy yêu những gì mà bạn sẽ không bao giờ gặp lại lần thứ hai trong đời). Tuyệt! Mộng trùng lai không có ở trên đời (Bùi Giáng).

RƯỢU TIỀN NHÂN VIỆT NAM

Nhâm nhi tửu Tàu như thế cũng tạm đủ. Nay xem các cụ Việt Nam chúng ta thưởng thức văn hóa rượu ra sao.

Từ thời cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, rượu đã nằm trong thơ, thể hiện một thế giá quân tử.

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
                                                                                                Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thời cận đại thì cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã đặt chai rượu lên tay nàng thơ của mình. Hoàng Đạo vẽ bức biếm họa đăng trên báo Phong Hóa về đặc trưng này của Tản Đà, vừa gõ đầu trẻ vừa uống rượu với lời thuyết minh: "Tản Đà: Các ngài muốn hỏi tôi cách làm thơ ru? Khó gì đâu: tửu nhập thi xuất!"

Say là thú vui trong cuộc sống Tản Đà. Bài thơ này học sinh chúng ta đã một thời học thuộc lòng ở trung học đệ nhất cấp.

Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thời hư vậy, say thời cứ say
Đất say đất cũng lăn quay
Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?

Say chẳng biết phen này là mấy!
Nhìn non xanh chẳng thấy, lại là say.
Quái! Say sao say mãi thế này?
Say suốt cả đêm ngày như bất tỉnh.

Thê ngôn túy tửu chân vô ích
Ngã dục tiêu sầu thả tự do*.

Việc trần ai, ai tỉnh ai lo
Say túy lúy nhỏ to đều bất kể.
Trời đất nhỉ, cái say là sướng thế!
Vợ can chồng, ai dễ đã chừa ngay?
Muốn say lại cứ mà say!
                           (Lại say, 1921. Tản Đà)

* Chú thích: Vợ nói rằng say rượu thật là vô ích, còn ta lại muốn giải sầu nên cứ uống líp-lơ!

Tội nghiệp phu nhân tiên sinh Tản Đà, chịu đựng một phu quân như thế thật là … phi thường. Nhưng nếu Tản Đà cứ tỉnh như sáo sậu thì học sinh làm gì có bài thơ này mà đọc?

Tiêu biểu cho một phong thái khác, vừa say vừa … nhảy đầm, vừa tâm sự với vũ nữ _ hay tâm sự với thành Sầu, không biết được! _ mới thật … ác chiến hơn nữa!

Khúc nhạc hồng êm ái
Điệu kèn biếc quay cuồng
Một trời phấn hương
Đôi người gió sương
Đầu xanh lận đận, cùng xót thương, càng nhớ thương …
Hoa xưa tươi, trăng xưa ngọt, gối xưa kề, tình nay sao héo?
Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu thương
Bước chân còn nhịp Nghê thường lẳng lơ
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần …
Bốn tường nghiêng điên đảo bóng giai nhân
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi chân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay màu đỏ
Hãy thêm say, còn đó rượu chờ ta
Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa
Chưa cuối xứ Mê ly, chưa cùng trời Phóng đãng
Còn chưa say hồn khát vẫn thèm men
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt!
Rượu, rượu nữa! và quên, quên hết!
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi …
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghi hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời
Quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi gần rơi!
Trong men cháy giác quan gần bén lửa
Say không còn biết chi đời
Nhưng em ơi!
Đất trời nghiêng ngửa
Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngửa
Thành Sầu không sụp đổ em ơi!
(Say Đi Em, 1940. Vũ Hoàng Chương)

Say thế nhưng vẫn cảm thấy chưa đạt đến chốn Mê ly, chưa chạm đến được cùng trời Phóng đãng. Say đến thế mà vẫn không phá đổ được thành Sầu. Chưa thực sự xỉn tản!

Chẳng biết khi nghe Ann Landers nói: “People who drink to drown their sorrow should be told that sorrow knows how to swim (Những ai uống rượu hòng nhận chìm nỗi sầu muộn nên biết rằng nỗi sầu muộn biết bơi.), chẳng biết tiên sinh Vũ Hoàng Chương còn cam đảm bơi thi với thành Sầu nữa hay không.

Trong một bài thơ khác, Đời vắng em rồi say với ai? 1943, Vũ tiên sinh đã mất hết lý lẽ để say, nhưng bình thì lúc nào cũng rót đến khô rượu …

Em ơi lửa tắt bình khô rượu!
Đời vắng em rồi say với ai?

Thưa tiên sinh, nỗi buồn của tiên sinh đã hết thuốc chữa! Chỉ chờ Hoa Đà tái thế cất cho tiên sinh một… loại rượu khác có độ cồn bách phân cao hơn nữa!

VĂN HÓA RƯỢU BIA THỜI MỞ CỬA
Trong thời đương đại chúng ta đang hít thở mà chỉ nói đến văn hóa thuần rượu e lạc hậu. Hàng ngày chở nội tướng nhà tôi đi chợ, vào dịp giáp tết này, trong hầu hết các cửa hàng, đại lý nước ngọt, tôi thấy khắp nơi bia thùng chất đụng trần nhà, chất tràn vỉa hè. Chiều chiều lại chở người yêu “đẹp lão” của tôi đi lăng quăng, chỗ nào cũng thấy quán nhậu. Rượu không thấy nhưng bia thì … bao la! Vì vậy, nên gộp hai thứ vào để gọi là nền “văn hóa rượu bia” cho hợp thời trang.
Tôi có hai học trò là hai chị em ruột, bỗng dưng “phải lòng” tiếng Pháp nên tôi có thêm việc làm mấy năm nay. Hàng năm cứ đến dịp nhà giáo hay tết nguyên đán là phụ huynh hai em lại biếu tôi chai rượu, kèm theo lời dặn dò: “Đây là rượu thật, đích thân người nhà chúng em đem từ XYZ … về, thầy để dành thưởng thức, đừng … cho ai! Rượu ở Việt Nam bây giờ toàn rượu giả thầy ạ, uống vào thiệt thân!” À, ra thế. Tôi không phải là sâu rượu nên cũng chẳng bao giờ uống, đem biếu lại mấy ông bạn cố tri.
Vậy có thể kết luận rằng những người giàu có trong nước hiện nay, bất kể đồng tiền họ kiếm được có mùi vị gì, cũng đều “sài” rượu có “lý lịch trong sáng”. Loại rượu còn lại tràn lan trong nước đều có lý lịch “tối mật”.
“Hãy nói cho tôi biết khối lượng bia dân bạn tiêu thụ hàng năm, tôi sẽ nói dân bạn là … ai.” Thử lên google tìm vài con số về lượng bia tiêu thụ ở Việt Nam, tôi không dám đọc chi tiết sợ ngộp thở, chỉ dám liếc qua. Sau đây là vài tiều đề: “Người Việt “nốc” ba tỷ lít bia bất chấp kinh thế khó …”, “Việt Nam tiêu thụ bia đứng thứ ba Châu Á”, “Đàn ông Việt uống rượu bia gấp bốn lần bình quân thế giới”, “Ăn nhậu Việt Nam: năm triệu con chó và ba tỷ lít bia”, … Miễn bình loạn!
Về phong thái uống rượu ngày nay, xin nhường lời cho những người nước ngoài tôi quen biết “phản ứng” tự nhiên trước cảnh rượu chè ở quê hương này.

Vebeke Hemmel, phụ nữ Đan Mạch, giám đốc dự án giáo dục vệ sinh, theo lời cố vấn quạt mo của mình là “nhập gia tùy tục” (When in Rome, do as the Romans do), bà phải đi chúc tết các quan chức địa phương vì sợ họ … giận, khó làm việc. Bà này đến giờ học tiếng Việt than với tôi: “Cán bộ uống rượu ghê quá! Họ uống liên tục và ép tôi cũng uống bằng họ. Tôi từ chối, và họ không hài lòng!” Lần khác bà lại than: “Đám cưới ở đây thật là kỳ lạ! Khách tham dự vừa uống bia vừa la hét. Nhạc thì ầm ầm, tôi không nghe được ai muốn nói gì với tôi. Họ dự cưới chỉ đề ăn uống chớp nhoáng rồi ra về. Thật khó hiểu!”

Frank Sobeck, người Đức, chuyên viên dự án phát triển nông thôn bền vững, thỉnh thoảng mời tôi, thầy dạy tiếng Việt cho vợ chồng anh, đi nhậu rượu rắn vì anh thích vị rượu này và tin vào hiệu quả “bổ cốt, giảm đau lưng nhức mỏi”. Hôm đó cạnh bàn chúng tôi ngồi là một dãy bàn dài gồm các quan chức địa phương đang nhậu nhẹt. Trên bàn họ gồm rượu tây, bia và mồi ngập ngụa. Chúng tôi vừa uống vừa nói chuyện. Bất ngờ: “một …, hai …, ba …, dzô!” Rakhee, cô vợ người Nepal của Sobeck giật thót người, suýt làm rơi ly nước, trợn tròn mắt sợ hãi hỏi tôi “Họ chửi nhau à?”. “Không, họ chúc nhau.” “Đó là lời chúc của Việt Nam à?” … Khi thực khách lần lượt rời quán, Sobeck hỏi tôi: “Họ là ai mà tiêu tiền hoang phí quá? Đồ ăn còn nhiều quá trên bàn!”

James Corning, người Hoa Kỳ, giám đốc tư vấn quốc tế dự án thoát nước, không rượu bia thuốc lá tí nào, thường bị “gí” trong mỗi buổi tiệc hỗn hợp. Từng khách một, bất kể ai đều đến cạnh ông ta, chìa cốc bia đầy ắp cụng vào ly của James đang để trên bàn rồi hô “oăn hơn-drét pờ sen!” Phản ứng như một robot, James đáp lại, có khi không nhìn người mời mình là ai vì bận nói chuyện: “five percent!” rồi nhấc cốc lên, hớp một ngụm nhỏ lấy lệ. Quay qua tôi, ông ta nháy mắt với tôi: “I must negotiate!” (tôi phải thương thuyết thôi!)

Một sư quốc doanh ngoài Bắc phát biểu: “Rượu nằm trong năm giới cấm căn bản của Phật giáo là đúng đắn, nhưng thử nghĩ xem, đời sống mà không có bia rượu thì vô vị biết chừng nào …!” Thua!

NAM VÔ TỬU …
Cuối năm ngoái dự đám cưới con một người bạn. Ngồi trong một bàn chủ hôn xếp sẵn cho bạn bè cũ, một ông bạn già phát động phong trào khai mạc bằng cách ra lệnh: “trăm phần trăm”. Thấy ly của tôi chỉ có nước lọc, anh trợn mắt: “Uống thứ nước này mà trăm phần trăm cái gì? Nè, nam vô tửu …”
Đó là câu khích tướng nghe rất quen thuộc trong mọi bàn nhậu. Người có tửu lượng cao thường tự hào khi áp chế người có tửu lượng thấp và khinh thường người không biết uống rượu. Tôi không dám chắc trong trong luật lưu linh có quy tắc này, nam vô tửu () như kỳ vô phong: làm đàn ông con trai mà không uống rượu thì chẳng khác nào cờ không có gió, cờ rũ!
Ngày xưa tôi học môn cổ luật vào năm thứ nhất ở Luật khoa đại học đường, trong bộ luật Hồng Đức triều Lê nước ta, thời mà luân lý đạo đức lẫn lộn với luật lệ, có quy định tội thập ác là trọng tội, có thể bị xử trảm, trong đó tội bất hiếu với cha mẹ là nặng lắm! Một trong những tội bất hiếu là vô tử ( ), không có con (trai) để nối dõi tông đường. Quan niệm xưa, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô bị lên án nặng nề vì vi phạm trắng trợn đến nguyên tắc nam nữ bình quyền. Ấy vậy mà cho đến bây giờ vẫn còn cảnh “chào ông ngoại” để chọc những người không có con trai trong bàn rượu… Có thể người ta muốn nói nam vô tử () như kỳ vô phong chăng?
Rượu tốt hay xấu? Nếu xấu thì tại sao ta vẫn luôn nhớ đến LY RƯỢU MỪNG vào những ngày cuối năm?

Ly rượu mừng