Sunday, May 21, 2017

Chúc mừng gia đình bạn Võ Thành


*




***

CHÚC MỪNG CỦA THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN

  • Thầy Lê Viết Lâm: CHÚC MỪNG NGÀY VUI HAI HỌChúc mừng gia đình Hai em VÕ THÀNH - KIM TUYẾT có Dâu hiền.
    Thầy chúc hai cháu JOHN CHÍ VO và CANDY VO TRĂM NĂM HẠNH PHÚC.
    Thầy Lâm, Sydney
  • Thầy Nguyễn Đình Liễn và Cô Lâm Thu Thủy: Thân mến chúc Tuyết và Thành có dâu hiền, chúc hai cháu trăm năm hạnh phúc 
    Nguyễn Đình Liễn & Lâm Thu Thủy 
  • Đỗ Thế Hùng: Chúc mừng gia đình Võ Thành nhé.
  • Phạm Kim Hương: CHÚC MỪNG HẠNH PHÚC
    Chúc mừng ngày vui của Hai Họ
    Mến chúc hai cháu Candy Vo & John Chí Võ trăm năm hạnh phúc
    Bạn của Thành Tuyết,
    Kim Hương
  • Lê Thị Bạch Liên: Chúc mừng gia đinh Võ Thành Tuyết ! Chúc hai cháu Trọn đời hạnh phúc!
  • Nguyễn Thị Hồng A: Chúc mừng tin vui gia đình Võ Thành và Tuyết. Mến chúc hai cháu trăm năm hạnh phúc.

Saturday, May 20, 2017

Ngày ăn 6 bữa, tối ngủ 3 tiếng

Các bạn ơi , sau ngày hội ngộ Dallas 21-4 vừa qua , dzìa tới nhà nhưng lòng lại cứ lâng lâng như là rượu thuốc thấm dzô thân... phê ơi là phê..

Cả năm trời ròng rã lo tới lo lui, dù nhỏ dù lớn cũng là hội ngộ... phải lo đủ mọi bề như là lo làm 1 cái đám cưới cho con gái út đẻ bọc điều.

Nói tới hội ngộ là nói tới ăn, nói tới uống, nói tới quậy... còn ngủ thì dẹp qua một bên. 

Theo lời anh Liêm: ngày ăn 6 bữa, tối ngủ 3 tiếng. Hi hi... tới luôn bác tài...

Ngày xưa nhỏ HSKN có biết nấu ăn chi mô, tối ngày hắn chỉ lái chiếc Honda Dame DL552 chạy rong rong ngoài đường bắn bi với mấy đứa con trai, thế mà bi chừ hắn trổ tài nấu ăn đãi thầy cô và bạn bè thật là công dung giáo dục.

Ngày đầu hắn cho chúng ta nhậu xoài ngâm cay phỏng miệng.



Cá đù đù chiên xả ớt... canh chua thái với tôm hùm.
Bá cháy... bá cháy...




Ngày thứ 6 chào đón mọi người, hắn đãi phở tàu bay, tô nào tô nấy xe lửa, ăn xong là khỏi lết..


Nó múc, mày bưng... HSB bồi bàn, nhỏ MTT đã quá đã quá, húp sùm sụp, hưởng thụ mấy cục bò dò dziên...     thịt bê thui mua về bị ế.... ai cũng khoái món tự nấu của chị nuôi HSKN.


Thầy cô vui quá nán nán ở lại chơi, tới khuya mới về... hí hí...

Tụi em còn phải tập dợt văn nghệ, múa máy... sửa soạn cho ngày mai... chính thức hội ngộ... hẹn thầy cô đúng 8 giờ sáng... OK... OK... đúng giờ nghe , dạ tụi em đúng giờ ạ!

2 giờ sáng Chị nuôi HSKN vừa nấu xôi bắp, vừa kể chuyện ma... nhìn cái đôi bao tay xanh lè của hắn vừa xới xôi vừa bào đậu xanh... mà cũng bỏ nhà bếp mà chạy vô phòng kể chuyện ma cho đám bà già hớn hở chờ đợi.


Tưởng đâu là xôi cháy nhưng té ra là bá cháy tuyệt cú mèo.
Sáng thứ 7, thầy cô đúng 8 giờ có mặt, gõ cửa, học trò còn nằm ngáy khò khò...
Hoảng hồn MTT mở cửa đón chào thầy cô vào điểm tâm.
Xôi bắp đậu xanh mở hành thơm phức...



Bò Bía..Heo bía..tàu hủ bía.


Thầy cô tha lỗi, bỏ  cấm túc... hì hì



Tới cái màn gì nữa đây em??
Nhậu thầy cô ơi... nhậu...



Cái chi rứa?? Món ni là do anh Liêm dẫn Dzung đi mua đó. Ủng hộ nhà thờ... mà thầy.



Còn món ni ?? Soài trộn khô cá đù đù.



Chềnh mộc Sáng lo nướng thịt gà, nướng bắp... thì vợ Chềnh Mộc Sáng mời... dzô dzô... đàn bà VN qua đây vùng dzậy.



Uống đi, quậy đi.


O ơi, răng mà xôi chay ngon rứa??
Tối nay là phải chỉnh tề.... hội ngộ Dallas à nha!


Mùi Tái Tê

Sunday, May 14, 2017

Sơ lược về Trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột

1955 - Trường Nguyễn Trường Tộ

Được thành lập vào năm 1955, Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột là trường Trung học Việt ngữ đầu tiên tại tỉnh Darlac. Ban đầu trường có tên là trường Nguyễn Trường Tộ dưới sự điều hành của Thầy Hiệu trưởng Đỗ Trọng Thạc. Lúc đầu trường chỉ có duy nhất một lớp Đệ thất gồm khoảng 40 học sinh tuyển từ trường Tiểu học Nguyễn Công Trứ. Vì chưa có trường sở nên nhà trường phải mượn đỡ một phòng trong khuôn viên của trường Nguyễn Du làm lớp học và Thầy Hiu trưởng Đỗ Trọng Thác phải kiêm nhiệm mọi công việc từ giáo sư dạy đủ mọi môn cho đến tùy phái, thư ký.

Qua năm 1956, trường có thêm lớp Đệ Lục. Học được vài tháng, trường Nguyễn Trường Tộ phải dời lên một căn nhà sàn hai phòng cũng trong khuôn viên trường Nguyễn Du. Việc lên xuống nhà sàn khá khó khăn nên sau đó trường dời đến học tạm tại trường Sư Phạm Cao Nguyên vừa mới xây xong, chưa có học sinh. Trường Nguyễn Trường Tộ đóng đô ở đây khá lâu. Khi bắt đầu có lớp Đệ tứ vào năm 1958, trường lại dời đến khách sạn Nicolas, một khách sạn khá lớn nằm gần Ty Ngân khố và Biệt điện Bảo Đại trên đường Thống Nhất.


1959 - Trường Trung Học Ban Mê Thuột

Sau khi Thầy Đỗ Trọng Thạc đổi về Biên Hòa, Thầy Phạm Văn Đồng về làm Hiệu trưởng năm 1958. Trong thời gian tại chức, Thầy Đồng đã dốc nỗ lực vào việc xây dựng trường ốc trên đường Hùng Vương, tại vị trí mà trường hiện tọa lạc (nay là 57 Bà Triệu, Thành phố Buôn Ma Thuột). Đầu niên học 1959-1960, trường Nguyễn Trường Tộ sát nhập với trường Trung học Y Jut để thống nhất chương trình dạy Việt ngữ và đổi tên thành Trung học Ban Mê Thuột. Trường Trung học Y Jut, nguyên thủy là Lycée Sabatier thành lập từ năm 1946, là một trường dạy tiếng Pháp mà đa số học sinh là người Rhadé. Hiệu trưởng của trường lúc bấy giờ là Thầy Đỗ Đức Riệu. 

Sau bao cố gắng xây dựng cho trường ốc càng ngày càng khang trang hơn, Thầy Phạm Văn Đồng rời nhiệm sở về Sài Gòn năm 1962 và trao trách nhiệm lại cho Thầy Nguyễn Khoa Phước. Kế nhiệm Thầy Nguyễn Khoa Phước là Thầy Nguyễn Khoa Tuấn. Thầy Nguyễn Khoa Tuấn là người giữ cương vị Hiệu trưởng ở trường Trung Học Ban Mê Thuột lâu nhất (1964-1969) và có lẽ cũng khổ công không kém các vị Hiệu trưởng tiền nhiệm vì trong giai đoạn này, Trung Học Ban Mê Thuột đã tiến từ một trường Trung học bình thường tới việc kiện toàn mọi khía cạnh, chỉnh trang cơ sở vật chất để trở thành một trong 10 trường Trung học Tổng hợp trong toàn miền Nam.

Cổng trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột

1968 - Trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột 

Năm 1968, trường được áp dụng chương trình giáo dục tổng hợp và được đổi tên thành Trường Trung học Tổng hợp Ban Mê Thuột. Chương trình giáo dục tổng hợp là mt chương trình giáo dục thực tiễn phát sinh từ quan niệm giáo dục của triết gia John Dewy và được James B. Connant h thống hóa và đem áp dụng cho các trường trung học Hoa Kỳ. Chương trình này chú trọng đến khía cạnh thực tiễn và hướng nghiệp, đặt nặng vào các môn kinh tế gia đình, kinh doanh, công-kỹ nghệ, v.v... nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức thực tiễn, giúp họ có thể mưu sinh sau khi rời trường trung học. Ở từng địa phương, phụ huynh học sinh và các nhà giáo có thể đề nghị những môn học đặc thù có thể đem ứng dụng ở nơi mình sinh sống. Chương trình này được áp dụng đầu tiên tại Trường Trung học Kiểu mẫu Thủ Đức, sau đó mở rộng cho một số trường ở những nơi khác, kể cả trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột. [1]

Năm 1969, Thầy Nguyễn Phước Quang về nhậm chức Hiệu trưởng. Cuối năm 1971, Thầy Quang lại chuyển nhiệm sở và Thầy Lê Văn Tùng lên thay thế.

Nối tiếp các vị tiền nhiệm, Thầy Lê Văn Tùng (1971-1975) tiếp tục cải thiện mọi điều kiện để trường trở thành một ngôi trường rộng lớn đầy đủ tiện nghi với thư viện, phòng thí nghiệm, sân thể thao, phòng sinh hoạt văn nghệ cùng nhiều lớp huấn nghệ như Canh nông, Kế toán, Đánh máy, Kỹ nghệ họa, Mỹ thuật họa… Việc đáng nhớ nhất là năm 1974 trường đã phát hành tập Kỷ Yếu đầu tiên. Tập kỷ yếu này đã trở thành một kỷ niệm thật quý báu mà các cựu học sinh của trường lúc bấy gi vẫn còn nâng niu cất giữ cho đến ngày hôm nay.



Trần Dung
(Phỏng trích theo bài "Vài nét về Trường Trung Học Ban Mê Thuột" của cuốn Đặc San và Kỷ Yếu 55 Năm do NK 68-75 thực hiện)


Chú thích:

1.  Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa




QUÝ VỊ GIÁO SƯ CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC THBMT
(cho đến 3/1975)

  1. Cố Giáo Sư Nguyễn Đình An (Giáo sư Vạn Vật, ra trường cùng khóa với Thầy Hiệu trưởng Lê Văn Tùng, dạy ở Phan Thiết, sau theo vợ là Cô Phạm Thị Ngọc Thanh đổi về Ban Mê Thuột. Kế đó đổi về dạy ở trường Sư Phạm Cao Nguyên. Qua đời tháng 3/2017 (lvt)
  2. Thầy Thái Bình An (Giáo sư Địa Lý, sau đổi qua trường Sư Phạm Cao Nguyên, rồi làm phụ tá cho Thầy Đỗ Minh Giảng và cuối cùng đắc cử Nghị viên Hội Đồng Tỉnh Darlak. Hiện đang ở Nam California) (lvt)
  3. Thầy Lê Quí Ánh (Cố Giáo sư, nguyên là CHS của trường, lớp đàn anh của Thầy Bùi Thế Vĩnh) 
  4. Thầy Nguyễn Đình Anh (Giáo sư Việt Văn, rời trường năm 1971) (nqp)
  5. Thầy Nguyễn Văn Bách (Giám thị)
  6. Thầy Tôn Thất Viễn Bào (Giáo sư Anh Văn 1961-1964, sau đổi về trường Quốc Học. Làm Xử lý Thường vụ Hiệu trưởng vài tháng trước khi Thầy Nguyễn Khoa Tuấn về trường) (lvt)
  7. Thầy Hoàng Văn Bát
  8. Cô Nguyễn Thị Bê (Giáo sư Việt Văn, CHS 1961-1968) (lvt)
  9. Thầy Cao Bính (Giáo sư Sử Địa)
  10. Cô Nguyễn Dziễm Bình (Giáo sư Vạn Vật. Hiện đang ở California, USA)
  11. Pierre Marie Briuh (Giáo sư Pháp Văn, người Thượng, dạy 1 năm rồi đổi về Bộ Sắc Tộc làm Đổng Lý. Hiện ở North Carolina, USA) (bdc)
  12. Thầy Nguyễn Xuân Các (Giáo sư Pháp Văn 1963-1967, sau đổi về Sài Gòn. Hiện ở Houston, Texas, USA) (pnc)
  13. Thầy Michael Call (Hiện ở Ottawa, Canada) (bdc)
  14. Cô Hồng Thị Ngọc Cầm (Giáo sư Việt Văn. Hiện ở Montréal, Australia)
  15. Thầy Trần Xuân Cảnh (Giám thị)
  16. Cô Lê  Thị Chanh (Giáo sư. CHS 1959-1966. Hiện đang ở Washington State, USA)
  17. Thầy Bùi Dương Chi (Giáo sư Anh Văn 1963-1974. Hiện ở Washington DC, USA) (bdc)
  18. Cô Bùi Thị Minh Châu 
  19. Thầy Ngô Thanh Châu (Giáo sư Sử Địa)
  20. Cô Nguyễn Thị Trân Châu  (Giáo sự đệ nhị cấp Sử Địa. Chị ruột của Cô Quỳnh Cư. Vợ của Thầy Lương Thanh Hoàng. Thầy Hoàng đã mất ở Na Uy. Hiện ở New York) (lvt)
  21. Thầy Nguyễn Đình Chung (Giáo sư Toán. Thầy Chung dạy ở BMT hai năm rồi đổi về Sài gòn dạy ở trường Trưng Vương. Hiện ở Việt Nam)(cpk)
  22. Cô Nguyễn Thị Quỳnh Cư (Giáo sư Lý Hóa)
  23. Thầy Bảo Cự (Giáo sư Việt Văn. Hiện ở Đà Lạt, Việt Nam)
  24. Cô Phạm Thị Phương Cúc (Giáo sư Vạn Vật - phu nhân của Giáo sư Hiệu Trưởng Nguyễn Khoa Tuấn)
  25. Thầy Vũ Văn Dần (Giáo sư Âm Nhạc, đặt hiệu đoàn ca của trường) (pnc)
  26. Cô Bùi Thị Dậu
  27. Thầy Võ Viết Di (Giáo sư Anh Văn. Hiện đang ở Sài Gòn)
  28. Cô Diana D. Bùi (Giáo sư Anh Văn, 1969-1971. Hiện ở Washington DC, USA) (bdc)
  29. Thầy Nguyễn Diêu (Cố Giáo sư Sử Địa. ĐHSP Huế Khóa 1974) (đnth)
  30. Cô Hoàng Thị Lệ Dung (Giám thị)
  31. Thầy Nguyễn Đình Dũng (Giáo sư Toán và Lý Hóa, Phụ tá Giám học 1970-1971. Hiện ở California, USA)
  32. Thầy Nguyễn Hữu Dung (Giáo sư Lý Hóa. Khóa ĐHSP Huế 1974)  (đnth)
  33. Thầy Nguyễn Kim Dũng (Giáo sư Việt Văn tức nhà văn Thế Uyên, rời trường trước năm 1962)
  34. Cô Nguyễn Thị Dung (Cố Giáo sư)
  35. Cô Trần Thị Tâm Đan  (Giáo sư đệ nhất cấp Pháp Văn) (lvt)
  36. Thầy Chế Minh Điền (Giáo sư Anh Văn 1962-1964. Hiện ở Seattle, Washington) (lvt)
  37. Thầy Dương Quang Định (Cố Giáo sư  Toán và Lý Hóa) (pnc)
  38. Cô Trần Thị Kim Đính (Giáo sư Vạn Vật. Vợ Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Khoa Phước. Hiện ở Washington DC) (lvt)
  39. Thầy Nguyễn Đăng Đĩnh (Cao học Anh Văn, CHS 1959-1966, cùng lớp với Cô Lâm Thị Thu Thủy, Cô Lê Thị Chanh, Cô Phượng. Cùng người yêu là CHS Nguyễn Thị Lan tự tử vài tháng sau khi Ban Mê Thuột bị thất thủ năm 1975) (lvt)
  40. Thầy Phạm Ngọc Đĩnh (Giáo sư Pháp Văn, rời trường năm 1963)
  41. Thầy Trần Sỹ Đính (Giáo sư Vạn Vật) (lvt)
  42. Thầy Vũ Đăng Độ (Giáo sư Anh Văn, CHS 1961-1968) (lvt)
  43. Thầy Phạm Văn Đồng (Giáo sư Hiệu trưởng Trung Học Ban Mê Thuột 1958-1962) 
  44. Thầy Huỳnh Gia Đức (Cố Tổng Giám Thị, rời trường trước 1962)
  45. Thầy Đặng Đương (Cố Giáo sư Sử Địa)
  46. Thầy Lương Em (Giáo sư Toán. Hiện ở Houston, Texas) (lvt)
  47. Thầy Đỗ Minh Giảng (Giáo sư Pháp Văn, Tổng giám thị 1966-1967)
  48. Thầy Nguyễn Giõng (Giáo sư Việt Văn và Triết. Hiện ở Adelaide, Australia)
  49. Thầy Nguyễn Bắc Hà (Giáo sư Anh Văn)
  50. Thầy Đặng Ngọc Thanh Hải (Giáo sư Anh Văn. Khóa ĐHSP Huế 1974)  (đnth)
  51. Thầy Hoàng Đình Hàn (Giáo sư Toán & Lý Hóa. CHS khóa 1960-1967) (lvt)
  52. Thầy Lương Duyên Hãn (Giáo sư Lý Hóa, rời trường năm 1963)
  53. Thầy Nguyên Hạnh (Tu sĩ Phật Giáo chùa Khải Đoan, hiện trụ trì một chùa ở Houston, Texas) (lvt)
  54. Cô Võ Thị Hảo (Giáo sư Sử Địa, rời trường năm 1972. Hiện ở Tuy Hòa, Việt Nam)
  55. Thầy Phạm Văn Hay (Cố Giáo sư Công dân)
  56. Thầy Trần Đắc Hiền (Cố Giáo sư Anh văn, Phụ tá Giám học 1973-1974)
  57. Thầy Trần Đại Hiền (Giáo sư Anh Văn. Hiện ở Nam California, USA) 
  58. Thầy Lý Quân Hiếu (Giáo sư Sử Địa)
  59. Thầy Hiưpp (Cố Giáo sư Pháp Văn. Chi tiết từ Thầy Võ Ngọc Lô: Thầy Hiưpp là người Banahr nên tên Thầy không có chữ Y ở trước như người Rhadé, tên chỉ gọi một từ là Hiưpp. Chi tiết từ Thầy Bùi Dương Chi: Tên Thầy là Hiupp) (vnl, bdc)
  60. Cô Lê Ngọc Hòa (Giáo sư Việt Văn)
  61. Cô Nguyễn Ngọc Hòa (Giáo sư Toán)
  62. Thầy Lương Thanh Hoàng (Cố Giáo sư Sử Địa. Khóa ĐHSP Huế 1974)
  63. Thầy Ngô Xuân Hoàng (Giáo sư Toán và Lý Hóa, kiêm Hiệu trưởng trường quận Buôn Hô, sau đổi về trường Văn hóa Quân đội Lam Sơn. Hiện ở Australia) (lvt)
  64. Thầy Nguyễn Hoàng (Cố Giáo sư Kế Toán và Đánh Máy, Phu quân của Cô Nguyễn Thị Đào Nguyên)
  65. Cô Nguyễn Thị Hồng (Giáo sư Việt Văn)
  66. Thầy Phạm Hy Hồng (Tổng giám thị 1958-1962)
  67. Thầy Nguyễn Quốc Hùng (Giáo sư Công Dân. Cử nhân Luật. Người có công làm Kỷ yếu của trường) (lvt)
  68. Cô Phạm Thị Minh Hưng (Giáo sư Vạn Vật. Hiện ở Sài Gòn, Việt Nam)
  69. Thầy Nguyễn Văn Hường(Giáo sư Toán. Rời trường năm 1963. Bị động viên. Hiện ở Houston, Texas) (lvt)
  70. Cô Võ Thị Như Hường (Giáo sư Công Dân. Cử nhân Luật. CHS 1959-1966, cùng lớp với Cô Lâm Thị Thu Thủy, Cô Trương thị Kim Trâm - vợ Thầy Lô) (lvt)
  71. Thầy Hồ Đức Huy (Giáo sư Sinh Vật. Khóa ĐHSP Huế 1974) (đnth)
  72. Thầy Nguyễn Thế Huy (Giáo sư Việt Văn 1971-1974. Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và Văn Khoa năm 1971. Giáo sư chủ nhiệm lớp 9/8 năm 1972-1973. Hiệu trưởng trường Trung Học Tỉnh Hạt Buôn Hô kiêm Trưởng Chi Giáo Dục và Thanh Niên, 1973-1975. Hiện đang ở Buffalo, New York) (fb)
  73. Thầy Nguyễn Văn Khang (Cố Giáo sư Việt Văn, CHS 1961-1968) (lvt)
  74. Thầy Chung Phước Khánh (21/7/1940-24/3/2017. Hưởng thọ 78 tuổi. Cố Giáo sư Việt Văn, dạy ở Trường THBMT từ năm 1967-1970, sau đó đổi nhiệm sở về trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Có thể xem thêm hình ảnh của Thầy ở link http://www.forevermissed.com/khanh-phuoc-chung/#about)
  75. Thầy Hứa Hữu Khánh (Giáo sư Toán 1973-1976. Hiện đang ở Sài Gòn, Việt Nam) (ptmh)
  76. Thầy Lê Văn Khánh (Giáo sư Pháp Văn, rời trường trước năm 1962)
  77. Thầy Nguyễn Xuân Khánh (Giáo sư Anh Văn, 1964-1966, sau đổi về Bộ Giáo Dục, Sài Gòn)
  78. Thầy Phạm Đỗ Khiêm (Giáo sư, rời trường trước năm 1962. Hiện đang ở Nam California)
  79. Cô Nguyễn Thị Suối Kiết (Giáo sư Anh Văn. Hiện ở Canada) 
  80. Thầy Mai Xuân Kính (Giáo sư Lý Hóa, 1962-1966, sau đổi về trường nữ Trung Học Lê Văn Duyệt, Sài Gòn) 
  81. Thầy Y Het Kpơr (Giám thị)
  82. Thầy Lê Viết Lâm (Giáo sư Công Dân. Hiện đang ở Sydney, Australia)
  83. Thầy Nguyễn Ngọc Lâm (Phó Tổng giám thị)
  84. Thầy Nguyễn Lan (Giáo sư Sử Địa) (pnc)
  85. Cô Huyền Tôn Nữ Thị Ngọc Lan (Giáo sư Lý Hóa)
  86. Cô Lê Thị Như Lang 
  87. Thầy Nguyễn Văn Lễ (Giáo sư Pháp Văn 1963-1967, sau đổi về Sài Gòn)
  88. Thầy Nguyễn Đình Liễn (Giáo sư Tổng giám thị 1969-1975. Hiện đang ở Virginia, USA)
  89. Cô Nguyễn Thị Liên (rời trường trước năm 1962)
  90. Thầy Võ Ngọc Lô (Giáo sư Lý Hóa. Hiện ở Minnesota, USA) 
  91. Cô Phạm Thị Kim Loan (Giáo sư Toán, CHS 1961-1968) (lvt)
  92. Thầy Đồng Văn Long (Giáo sư  Việt Văn, đổi về Mỹ Tho năm 1964)
  93. Thầy Trần Như Mật (Giáo sư Toán. Khóa ĐHSP Huế 1974) (đnth)
  94. Thầy James Pruess  (Giáo sư Anh Văn. Hiện ở Bangkok, Thái Lan) (bdc)
  95. Cô Phạm Thị Mười (Giáo sư Việt Văn. Hiện ở Sài Gòn, Việt Nam)
  96. Cô Nguyễn Thị Mỹ (Giáo sư Anh Văn. Hiện ở Calgary, Canada) (lvt)
  97. Thầy Huỳnh Nam (Cố Giáo sư Lý Hóa 1964-. Tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm Huế năm 1964)
  98. Thầy Nguyễn Hoàng Nga (Giáo sư Pháp Văn. Hiện ở Sài Gòn, Việt Nam) 
  99. Cô Phù Thị Nga 
  100. Cô Phạm Thị Nguyệt Nga (Giáo sư Sử Địa. Hiện ở San Jose, California, USA)
  101. Thầy Đinh Ngân (Giáo sư Kế Toán)
  102. Thầy Tô Phùng Nghiệp (Cố Giáo sư Toán, Lý Hóa và Nhạc) (pnc)
  103. Thầy Nguyễn Văn Ngoạn (Cố Giáo Sư Pháp Văn)
  104. Thầy Phan Ngọc (Cố Ciáo sư Toán-Lý Hóa, 1963-1964, sau đổi về trường Trần Quí Cáp, Hội An, hoán chuyển với Thầy Nguyễn Đình Dũng. Sau 75, Thầy định cư Washington DC, USA. Từ trần ngày 1 tháng 4 năm 2016)
  105. Thầy Nguyễn Văn Ngự (Cố Giáo sư Việt Văn, Phụ tá Giám Học 1969-1970)
  106. Cô Nguyễn Thị Đào Nguyên (Giáo sư Nữ Công Gia Chánh. Hiện ở Ban Mê Thuột)
  107. Thầy Nguyễn Văn Nhạc (Cố Giáo Sư Lý Hóa) 
  108. Thầy Lê Thanh Nhàn (Giáo sư Công Dân, Toán, kiêm Hiệu trưởng trường Ban Công, sau đổi thành trường Tỉnh Hạt. Hiện ở Dallas, Texas, USA)
  109. Thầy Đỗ Duy Nội (Giáo sư Pháp Văn, 1964-1969. Hiện ở Pháp) (pnc)
  110. Cô Đặng Thị Phấn
  111. Cô Nguyễn Thị Phấn (Giáo sư Việt Văn. Hiện ở Louisiana, USA)
  112. Thầy Phạm Thanh Phong (Giáo sư Toán) 
  113. Cô Nguyễn Thị Phú (Giáo sư Công Dân, rời trường năm 1964)
  114. Thầy Nguyễn Văn Phúc (Giáo sư Toán kiêm Hiệu trưởng trường Quận Ban Mê Thuột. Hiện ở Seattle, Washington, USA)
  115. Thầy Lê Phùng 
  116. Thầy Nguyễn Đình Phước (Giáo sư Toán. ĐHSP Huế Khóa 1973. Ra trường đi Pháp tu nghiệp một năm, đến năm 1974 mới chính thức dạy. Sau 1975 về Nha Trang) 
  117. Thầy Trần Đình Phước (Giáo sư Vạn Vật, em cô Nguyễn Thị Tiên. Hiện ở Boston, USA)
  118. Thầy Nguyễn Khoa Phước (Giáo sư Hiệu trưởng trường Trung Học Ban Mê Thuột từ 11/1962-12/1963. Thầy Phước đổi ra Quảng Ngãi làm Hiệu trưởng trường Trần Quốc Tuấn. Năm 1973 làm Chánh sở Giáo Dục Vùng 2. Sau đó đắc cử Thượng nghị sĩ, đã học tập khá lâu. Hiện ở Washington DC) (lvt)
  119. Thầy Phạm Văn Phước (Giáo sư Vạn Vật. Rời trường năm 1974 để về trường Nguyễn Huệ, Tuy Hòa. Hiện ở Na Uy) (lvt)
  120. Cô Nguyễn Thị Hồng Phượng (Giáo sư Anh Văn, CHS 1959-1966)
  121. Cô Tôn Nữ Diệm Phương (Giáo sư Anh Văn)
  122. Thầy Nguyễn Phước Quang (Giáo sư Hiệu trưởng Trung Học THBMT 1969-1971. Hiện ở Vancouver, Canada. Thầy Quang là học trò cũ của Thầy Nguyễn Khoa Phước năm đệ tam và đệ tứ) (lvt)
  123. Thầy Nguyễn Huy Quang (Cố Giáo sư Hội Họa)
  124. Thầy Đặng Kim Quy (Hiện đang ở San Jose, California, USA. Rời trường trước năm 1962)
  125. Cô Nguyễn Thị Quýt
  126. Thầy Đỗ Đức Riệu (Giáo sư Hiệu trưởng Trung Học Y Jut, 1955-1957)
  127. Thầy Phú Thành Sang (Giáo sư Pháp Văn. Hiện ở Vũng Tàu, Việt Nam) 
  128. Thầy Đào Văn Sơn (Giáo sư Anh Văn, rời trước trước năm 1962)
  129. Thầy Ngô Thanh Sơn (Giáo sư Anh Văn, rời trường trước năm 1962)
  130. Thầy Thân Trọng Sơn (Giáo sư Pháp Văn. Hiện đang ở Đà Lạt, Việt Nam) 
  131. Thầy Võ Thanh Sum (Giáo sư Sử Địa) 
  132. Cô  Dương Thị Ngọc Sương(Giáo sư Sử Địa, 1972-1975)
  133. Thầy Võ Quý Sỹ (Giáo sư Toán. Hiện ở Sài Gòn, Việt Nam)
  134. Thầy Lê Tấn Tài 
  135. Cô Nguyễn Thanh Tài (Em Cô Suối Kiết) (nqp)
  136. Thầy Trần Tấn Tài (Đánh máy) 
  137. Thầy Đỗ Công Tâm (Giáo sư dạy giờ Công Dân đồng thời là nhân viên Đài Phát thanh Ban Mê Thuột. Hiện ở Houston)(lvt, ntsk)
  138. Thầy Dương Hiển Tấn (Giáo sư Toán & Lý Hóa) 
  139. Thầy Đỗ Trọng Thạc (Hiệu trưởng Trung Học Nguyễn Trường Tộ, 1955-1957)
  140. Cô Trần Thị Thái (Giáo sư Toán, CHS 1961-1968, USA)  (lvt)
  141. Thầy Nguyễn Văn Thắng (Cố Giáo sư Thể Dục, rời trường trước năm 1962) 
  142. Thầy Đỗ Phước Thanh (Giáo sư. CHS cùng lớp với Hồ Quốc Vũ. Học nhảy lớp, đỗ Cử nhân và dạy ở trường 1974-1975) (lvt)
  143. Thầy Lê Đình Thanh (Giáo sư Việt Văn)
  144. Thầy Nguyễn Thành (Giáo sư Việt Văn)
  145. Cô Phạm Thị Ngọc Thanh (Giáo sư Pháp Văn. Hiện ở Thụy Sĩ)
  146. Cô Tôn Nữ Diệu Thanh (Giáo sư Việt Văn, 1967-1971, sau đổi về trường Bùi Thị Xuân, Đà Lạt)
  147. Thầy Trần Văn Thịnh (Giáo sư Sử Địa. Vợ là Đinh Thị Thanh Xuân, bạn Cô Thủy. Hiệu ở Australia) (lvt)
  148. Thầy Trần Hữu Thọ (Giáo sư Pháp Văn. Hiện ở Ban Mê Thuột, Việt Nam)
  149. Thầy Nguyễn Đức Thông (Cố Giáo sư Triết)
  150. Cô Lê Thị Trung Thư (Sau đổi về Trường Sư Phạm Cao Nguyên)
  151. Cô Phạm Thị Kim Thu (Giáo sư Sử) 
  152. Thầy Nguyễn Văn Thụ (Giáo sư Hán Văn, rời trường trước năm 1962)
  153. Thầy Thái Thu Thuận
  154. Cô Nguyễn Thị Thưởng (Giáo sư Anh Văn, CHS 1961-1968) (lvt) 
  155. Cô Lâm Thị Thu Thủy (Giáo sư Toán. CHS 1959-1966. Hiện ở Virginia, USA) 
  156. Thầy Trần Hữu Thủy
  157. Thầy Bùi Tiến (Giáo sư Vật Lý)
  158. Cô Nguyễn Thị Tiên (Giáo sư Việt Văn, 1960-1967, đổi về Long An. Hiện ở Maryland, USA) 
  159. Thầy Vũ Đình Tiến (Cố Giáo sư Lý Hóa, Vạn Vật, và làm Chánh sở Giáo Dục Phước Long. Sau năm 75, Thầy định cư ở Adelaide, Nam Úc. Từ trần ngày 3 tháng 10 năm 2016. Hưởng thọ 83 tuổi) 
  160. Thầy Lê Văn Toàn (Cố Giáo sư Việt Văn, 1960-1962, sau đổi về Vũng Tàu. Mất năm 2014)
  161. Thầy Cung Kim Trạch (Cố Giáo sư Giám học, 1967-1973)
  162. Thầy Nguyễn Duy Trại (Giáo sư Việt Văn. Rời trường trước năm 1962. Hiện ở Southern California) (lvt)
  163. Thầy Tôn Thất Trai
  164. Cô Trương Thị Kim Trâm (Giáo sư Việt Văn. Hiện ở Minnesota, USA)
  165. Cô Hồ Thị Oanh Trảo (Giáo sư Việt Văn)
  166. Thầy Trần Văn Trí (Giáo sư dạy giờ, rời trường năm 1963)
  167. Thầy Hoàng Trọng (Giáo sư Lý Hóa. Hiện ở Dallas, Texas, USA) 
  168. Thầy Lê Thừa Trứ (Giáo sư Lý Hóa. Hiện ở Huế, Việt Nam) 
  169. Thầy Nguyễn Văn Trúc (Giáo sư Anh Văn, 1962-1966, sau đổi về Ninh Hòa, Nha Trang)
  170. Thầy Nguyễn Đình Tuấn (Giáo sư Triết) (pnc)
  171. Thầy Nguyễn Khoa Tuấn (Hiệu trưởng Trung Học Ban Mê Thuột, 1964-1969. Thầy Tuấn và Cô Cúc hiện ở Herndon, Virginia)
  172. Thầy Lê Văn Tùng (Hiệu trưởng Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột, 1971-1975, Giáo sư Vạn Vật, 1962-1975. Hiện ở Montréal, Canada) 
  173. Thầy Nguyễn Thanh Tùng (Giáo sư Toán. Kỹ sư Công Chánh, CHS, chồng Cô Nguyễn Thị Phấn. Làm phó Ty Công Chánh Ban Mê Thuột) (lvt)
  174. Cô Đỗ Thị Tươi 
  175. Thầy Vũ Quang Tường (Giáo sư Toán. CHS 1961-1968. Cùng lớp với Thầy Trần Thế Vũ, Cô Kim Loan, Cô Nguyễn Thị Bê, Thầy Khang, Thầy Vũ Đăng Độ, Cô Thưởng, Cô Thái) (lvt)
  176. Thầy Lương Tỷ (???)
  177. Thầy Nguyễn Văn Tỷ (Giáo sư Pháp Văn. người Chàm. Hiện ở Phan Rang) (lvt)
  178. Thầy Nguyễn Đình Uyên (Giáo sư, rời trường trước năm 1962. Hiện đang ở Nam Cali) (nqp)
  179. Cô Nguyễn Thụy Vân
  180. Thầy Lê Xuân Viên (Cố Giáo sư Toán, chủ nhiệm lớp 11B 1962-1963, dạy Thầy Bùi Thế Vĩnh, anh Chiểu và anh Roãn. Thầy đổi về Sài Gòn năm 1963)
  181. Thầy Bùi Thế Vĩnh (Giáo sư Toán, Phụ tá Giám Học 1972-1973, Giám học 1973-1975. Hiện ở Sài Gòn, Việt Nam)
  182. Cô Bùi Thị Vinh (Giáo sư Việt Văn)
  183. Thầy Trương Vinh (Giáo sư Toán & Lý Hóa, Phụ tá Giám học 1971-1972. Em rể Thầy Hiệu trưởng Nguyễn Khoa Tuấn. Năm 1974 về làn Phụ tá Phó Trưởng Ty Giáo Dục cho Thầy Đỗ Minh Giảng)
  184. Thầy Nguyễn Hồng Vũ
  185. Thầy Trần Thế Vũ (Cố Giáo sư Toán. CHS 1961-1968. Từ trần ngày 20 tháng 9 năm 2016, hưởng thọ 67 tuổi) (lvt)
  186. Thầy Nguyễn Văn Vui (Cố Giáo sư Pháp Văn) 
Danh sách trên đây được hình thành với sự đóng góp của các Cựu Giáo Sư và Cựu Học Sinh của Trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột. Xin chân thành cám ơn Thầy Hiệu Trưởng Lê Văn Tùng, Thầy Nguyễn Đình Dũng, Cô Phạm Thị Minh Hưng, Thầy Chung Phước Khánh, Thầy Cao Bính, Thầy Nguyễn Giõng, Thầy Võ Ngọc Lô, Thầy Đặng Ngọc Thanh Hải, anh Nguyễn Quang Phú (nk 66-73) và các bạn lớp 67-74.

***

Một số nhân viên của trường trước tháng 3-1975
  1. Ông Bảo (Cai trường) (lvt)
  2. Ông Phan Bính (Cai trường) (lvt)
  3. Ông Y Chôn (Gác trường)  
  4. Cô Hoàng Thị Lệ Dung (Giám thị)
  5. Ông Vũ Bá Đính (Nhân viên tạp dịch) 
  6. Ông Nguyễn Hoàng (Thư ký) (lvt)
  7. Ôn Liư (Phụ trách Kế toán, làm lương cho Giáo sư) (lvt)
  8. Cô Phú (Thư ký) (lvt)
  9. Ông Nguyễn Đình Tấn (Y tá)  
  10. Ông Bùi Văn Tựu (Tài xế) (lvt)
  11. Cô Trần Thị Hồng Y (Thư ký) (lvt)

Saturday, May 13, 2017

Lá và Cây

Dung ơi,

Tối hôm qua Oanh mới có thì giờ nghe phần "Cây và Lá" Dung dọc.
Giọng rất tự nhiên làm cho người nghe cảm nhận như Dung đang trò chuyện Oanh thích lắm!

Trưa nay dạy bù xong sớm, anh Ánh rủ đi chụp hình. Vớt vát "cuối Thu". Nhưng hên quá, vẫn còn cái để gợi hứng mình.

Gởi Dung "Lá và Cây" nè.

Cái Oanh


















Wednesday, May 10, 2017

Sydney một buổi sáng mùa Thu, 10.5.2017

Thầy cô và các bạn thân mến,
Sáng nay 8:30 thầy Lâm gọi cho Cái Oanh trong lúc cái con nhỏ còn ham ngủ!!! Đến lúc thức dậy, thấy missed calls, bèn gọi lại cho thầy.
- "Ụi chàu, ngủ dự rứa!?"....."hôm nay hay ngày mai có rảnh thì đi ăn, đi chơi với thầy cô ?"
- Dạ hôm nay con đi được, ngày mai thì bận rồi ạ.
- Oanh gọi rủ xem có ai đi với mình cho vui không.
- Dạ để con gọi Kim Sơn và chị Phương xem ạ. Con sẽ gọi lại thầy nhe.
Kim Sơn bận sửa nhà, chị Phương bận. Thế là Cái Oanh lái xe đến thầy cô . Đến cổng là đã thấy những đóa hồng trắng lung linh trong nắng ấm; Cái nắng của buổi sáng mùa Thu thật dịu và êm làm sao! Tay thì bấm chuông, tay thì chớp vội vài tấm hình (trong lúc chờ thầy cô ra mở cửa". Xem hình đi, xem hình đi!
 


Thầy cô hôm nay diện đẹp làm sao! Dụ cô chụp hình chung với thầy, nhưng không được . Chỉ có thầy chịu làm "dáng". Xem hình đi, xem hình đi!
 

Hôm nay mừng Phật Đản, ta đi ăn chay. Quán thật đông đúc, phải ngồi chen chúc nhau nhưng Cái Oanh vẫn vòi cô chạy bàn được 1 tấm hình chung với thầy cô thì mới chiu. Hì hì . Xem hình đi thì thấy đấy các bạn ạ.
 



Thức ăn thật ngon miệng, ai nấy thật no nhưng vẫn quen tính la cà cafe sau khi ăn, Cái Oanh chở thầy cô đến 1 quán cafe để thưởng thức cafe kem (món khoái khẩu của thầy Lâm). Bơ và sầu riêng dằm là món mà cô Lâm và Cái Oanh mê.



... Rỉ rả chuyện này, chuyện nọ ....đã đến giờ đưa thầy cô về nghỉ trưa và cũng đến giờ Cái Oanh gõ đầu trẻ.

Chia tay thầy cô nhé . Hẹn thầy cô lần ăn hàng kế tiếp ạ.
Thầy cô vẫn nhắc đến các thầy cô và các bạn, ước mong rằng sẽ cùng nhau được ăn hàng tại Sydney đấy ạ .
Cái Oanh xin hết ạ.

Em Đi Vào Mộng Tìm Anh